20 Sep, 2011
Tác động của khủng hoảng nợ Châu Âu tới giá vàng
Trong phiên giao dịch đêm 19/9, giá vàng giao sau trên thị trường Mỹ giảm gần 36 USD/ounce xuống mức thấp nhất ba tuần qua, do nhà đầu tư bán tháo vàng để trữ tiền mặt trước nguy cơ Hy Lạp có khả năng vỡ nợ, đe dọa triển vọng chứng khoán Mỹ và đẩy bật giá trị đồng USD.
Cụ thể, giá vàng giao tháng 12 giảm 35,80 USD/ounce, tương ứng 2%, xuống 1.778,90 USD/ounce trên sàn Comex ở New York. Đây là mức đóng cửa thấp nhất kể từ hôm 25/8 tới nay của vàng hợp đồng này. Trong phiên, có lúc giá vàng kỳ hạn giảm tới 43,70 USD xuống 1.771 USD/ounce.
Đà giảm cũng diễn ra tương tự trên thị trường vàng giao ngay. Hôm qua, giá vàng giao ngay hạ từ mức 1.810,84 USD/ounce cuối tuần trước, xuống còn 1.777,8 USD/ounce. Trong phiên, có lúc giá rớt xuống dưới 1.770 USD/ounce.
Tuần trước, trong cuộc điều tra dư luận của Kitco với 28 nhà phân tích, giao dịch và đầu tư vàng, có tới 15 ý kiến (53,6%) dự báo giá vàng sẽ giảm trong tuần này, trong khi có 9 người (32,1%) nhận định giá sẽ tăng và 4 ý chiến cho rằng giá vàng sẽ đi ngang.
Chiến lược gia Mark Leibovit của hãng giao dịch vàng VRGold Trader.com, nhận định: “Tôi e rằng, nhiều chỉ báo cho thấy giá vàng có thể xuyên thủng ngưỡng hỗ trợ 1.702 USD/ounce, dù không phải là ngay trong tuần này, nhưng sẽ sớm xảy ra”.
Còn theo David Meger, giám đốc giao dịch kim loại tại Vision Financial Markets ở Chicago, “có lẽ mọi người bắt đầu cảm thấy bất an khi giá vàng đã tăng quá nhanh và mạnh thời gian qua. Thị trường cần thiết điều chỉnh để tìm lại sức mạnh thực”.
Meger cho rằng, khủng hoảng nợ công ở châu Âu hiện nay đang khuyến khích mọi người giữ tiền mặt thay vì các tài sản khác. Chứng khoán Mỹ đêm qua bốc hơi gần 1% dù phục hồi trở lại vào cuối phiên. Trong khi, giá xăng trượt hơn 3%, dầu thô giảm hơn 2%, do lo lắng triển vọng tiêu thụ năng lượng ở mức thấp.
Trong khi đó, chỉ số đồng USD, thước đo giá trị của đồng bạc xanh so với rổ 6 loại tiền tệ chủ chốt khác, đã tăng 0,8% lên 77,14 điểm. Đây là lần đầu tiên trong vài tháng qua, mối tương quan tăng giảm giữa vàng và USD được tái lập. Trước đó, hoạt động giao dịch vàng phần lớn căn cứ vào kết quả trên sàn chứng khoán.
Cuối tuần trước, hội nghị các bộ trưởng bộ tài chính châu Âu kết thúc nhưng không đưa ra được giải pháp nào mới cho việc giải quyết cuộc khủng hoảng nợ công, mà còn trì hoãn thêm gói cứu trợ tiếp theo dành cho Hy Lạp kèm theo nhiều điều kiện khắt khe khác.
Theo Chủ tịch Khu vực đồng tiền chung châu Âu Jean-Claude Juncker, khoản tiền cứu trợ tiếp theo trị giá 8 tỷ Euro (khoảng 11 tỷ USD) cho Hy Lạp sẽ được quyết định trong tháng 10 năm nay. Lý do trì hoãn là để các quan chức hữu quan có thời gian kiểm tra việc Hy Lạp thực hiện cam kết cải cách.
Như vậy, sau hội nghị này, Hy Lạp không có được triển vọng sáng sủa hơn trước trong việc giải quyết vấn đề nợ công mà thậm chí có thể phải đối phó với những điều kiện còn ngặt nghèo hơn. Bởi nếu không vượt qua kỳ sát hạch, Hy Lạp có thể khó nhận được khoản cứu trợ tiếp theo.
Kết quả nghèo nàn của cuộc họp được giới đầu cơ mong đợi suốt tuần qua càng làm khoét sâu những lo lắng về khả năng Hy Lạp sẽ là mắt xích đầu tiên mở hàng "vỡ nợ". Phát biểu tại cuộc họp này, Bộ trưởng Bộ Tài chính Mỹ cảnh báo, nếu Hy Lạp vỡ nợ, không quốc gia nào thoát khỏi bị ảnh hưởng.
Tuy nhiên, những đề xuất của phía Mỹ tại hội nghị bao gồm tăng vốn cho Quỹ ổn định tài chính châu Âu để hỗ trợ các nước thành viên đang gặp khó khăn, đồng thời nhanh chóng hành động nhằm "chống đỡ" hệ thống tài chính và ngân hàng của khu vực, đã không nhận được ánh mắt thiện cảm của giới chức châu Âu.
Theo giới phân tích, bất đồng giữa châu Âu và Mỹ có thể tác động xấu đến những nỗ lực hợp tác và hành động chung giải quyết cuộc khủng hoảng, từ đó "đào sâu" cái hố ngăn cách giữa hai bên và đẩy những nguy cơ khủng hoảng tài chính lên thêm một bậc.
Cũng liên quan tới châu Âu, hôm qua, tổ chức định mức tín nhiệm Standard & Poor's (S&P) quyết định hạ xếp hạng tín dụng của Italy xuống A, với triển vọng tiêu cực. Theo S&P, nguyên nhân hạ bậc vì nợ ròng chính phủ của Italy hiện rất cao và dự báo sẽ sớm đạt đỉnh, vượt xa dự báo.
S&P cho rằng, triển vọng tăng trưởng kinh tế của Italy đang suy yếu và dự báo rằng liên minh cầm quyền mong manh và những khác biệt chính sách trong quốc hội sẽ tiếp tục hạn chế khả năng giải quyết dứt khoát những thách thức kinh tế vĩ mô trong và ngoài nước.
Như vậy, Italy đã trở thành quốc gia thứ 6 trong khu vực đồng tiền chung châu Âu bị các tổ chức xếp hạng tín dụng hạ bậc trong năm nay, sau Tây Ban Nha, Ireland, Bồ Đào Nha, Cyprus và Hy Lạp, bất kể trước đó Thủ tướng Italy đã thông qua kế hoạch thắt lưng buộc bụng trị giá 54 tỷ Euro.
Mặc dù không tác động mạnh tới thị trường hàng hóa đêm qua, nhưng diễn biến chính trị tại Mỹ cũng khiến nhà đầu tư quốc tế có đôi chút lo lắng. Hôm qua, Tổng thống Mỹ đã đưa ra kế hoạch cắt giảm thâm hụt ngân sách trị giá 3.600 tỷ USD bằng cách tăng các loại thuế đánh vào người giàu.
Không nằm ngoài dự đoán, các nghị sĩ đảng Cộng hòa đã bác bỏ kế hoạch được cho là gây nguy hiểm và làm rõ rằng đề xuất này có ít cơ hội để được ban hành thành luật. Điều này ít nhiều đã ảnh hưởng tới tâm lý nhà đầu tư về khả năng thỏa hiệp chính trị ở Mỹ để cứu vãn kinh tế.
Tuy nhiên, bên cạnh những cái nhìn bi quan về triển vọng kinh tế Mỹ, châu Âu, không ít nhà phân tích vẫn cho rằng, xu thế này có thể đảo ngược, bởi trên thị trường cũng đã xuất hiện một số động thái mới có thể đảo ngược tình thế, chẳng hạn như việc Hy Lạp tiếp tục thắt lưng buộc bụng hay các nước BRICS mua nợ châu Âu.
Hôm 18/9, Bộ trưởng Bộ Tài chính Hy Lạp, Venizelos Evangelos, cho biết Chính phủ nước này sẽ khởi động một loạt các biện pháp “thắt lưng buộc bụng” mới nhằm cắt giảm chi tiêu công vào năm 2012, trấn an các “chủ nợ” rằng tình hình tài chính của nước này vẫn được nằm trong tầm kiểm soát.
Sau cuộc họp nội các kéo dài 3 giờ, với sự chủ trì của Thủ tướng Hy Lạp George Papandreou, Bộ trưởng Venizelos cho biết Chính phủ sẽ thực hiện các mục tiêu ngân sách được đề ra trong kế hoạch phục hồi kinh tế giai đoạn 2011-2015.
Các biện pháp bao gồm tinh giản biên chế trong lĩnh vực công; tạm ngừng trả lương hưu từ nay đến năm 2015; sáp nhập hoặc đóng cửa khoảng 30 công ty quốc doanh. Tuần trước, Chính phủ Hy Lạp cũng đã thông qua một số biện pháp khẩn cấp khác bao gồm đánh mức thuế mới đối với lĩnh vực bất động sản.
Trong một diễn biến khác, các nước thuộc nhóm BRICS (Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi) đã mua nợ châu Âu thông qua Quỹ bình ổn tài chính châu Âu và sẵn sàng mua thêm để hỗ trợ các nền kinh tế Khu vực đồng tiền chung châu Âu vượt qua thời điểm khó khăn hiện nay.
Trả lời trên tờ Valor Economico của Brazil số ra hôm qua, ông Christophe Frankel, Trưởng bộ phận tài chính của ESSF, nói rằng: “Chúng tôi rất hài lòng khi một số nước BRICS đã đầu tư mua nợ của chúng tôi. Điều này cho thấy, thành phần nhà đầu tư của chúng tôi đang có xu hướng đa dạng hóa”.
Ngoài ra, những dấu hiệu yếu kém của nền kinh tế Mỹ gần đây đang làm tăng những đồn đoán về khả năng cuộc họp chính sách của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ khai mạc hôm nay sẽ đưa ra chương trình nới lỏng định lượng mới nhằm cứu vãn nền kinh tế đầu tàu. Giới phân tích cho rằng, bất cứ hành động nào tương tự đều sẽ đẩy bật giá vàng.
20 Sep, 2011
Giá vàng rơi nhanh
Lúc 9h15, giá vàng SJC niêm yết ở mức 46,57 – 46,7 triệu đồng/lượng, giảm gần 400 nghìn đồng/lượng so với chốt phiên hôm qua.
Vàng SBJ của Sacombank-SBJ cũng 46,56 – 46,74 triệu đồng/lượng,
Trước đó, có lúc giá vàng còn giảm xuống dưới 46,6 triệu đồng/lượng.
Trên thị trường châu Á, giá vàng giao ngay qua bảng Kitco hiện đang ở mức 1.783 USD/ounce. Với mức giá này, lấy tỷ giá USD ngân hàng quy đổi thì hiện giá vàng trong nước vẫn đắt hơn giá vàng thế giới đến 1,9 triệu đồng/lượng chưa trừ thuế và chi phí khác. Còn tính theo tỷ giá trên thị trường tự do, thì giá vàng trong nước vẫn cao hơn 1,4 triệu đồng/lượng.
Để thu hẹp khoảng cách giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới, hôm qua Ngân hàng Nhà nước đã đồng ý cho các doanh nghiệp nhập thêm 4 tấn vàng, trong đó, SJC đựơc nhập 700 kg và PNJ được nhập 500 kg. Dự kiến, số vàng này sẽ về nước trong nay mai.
Trên thị trường thế giới, giá vàng hôm qua giảm gần 2% khi giới đầu tư bán tháo để bù lỗ cho chứng khoán và các loại hàng hóa khác.
Chốt phiên thị trường Mỹ, giá vàng giao kỳ hạn tháng 12 trên sàn Comex giảm 35,8 USD xuống còn 1.778,9 USD/ounce. Giá vàng giao ngay cũng xuống còn 1.810,8 USD/ounce. Trước đó, có lúc giá vàng rớt xuống mức 1.770 USD/ounce.
So với mức kỷ lục trên 1.900 USD/ounce, giá vàng đã mất hơn 8%.
Trên thị trường ngoại tệ, sáng nay, Ngân hàng Nhà nước vẫn tiếp tục áp tỷ giá USD bình quân liên ngân hàng ở mức 20.628 đồng/USD. Giá USD niêm yết bán ra tại các NHTM vẫn kịch trần với 20.834 đồng/USD.
Trên thị trường USD tự do, theo các cửa hàng trên phố Hà Trung, hiện giá USD đang được mua - bán ở mức 21.010 – 21.040 đồng/USD.
20 Sep, 2011
Vàng nhấp nhổm làm kinh tế không yên
Giá vàng liên tục tăng chóng mặt trong thời gian gần đây đã tác động tiêu cực tới tâm lý và hành vi tiêu dùng nhiều hàng hóa khác. Nhiều người đổ lỗi cho vàng là nguyên nhân, nhưng cũng không ít người cho rằng biến động bất thường của giá vàng chỉ là hậu quả của những bất ổn kinh tế vĩ mô.
Giá vàng phập phồng theo kinh tế vĩ mô
Tích trữ vàng là thói quen có từ xa xưa của người Việt Nam bởi ngoài khả năng giữ giá trị và không bị hao hụt theo thời gian, vàng cũng có tính thanh khoản cao khi dễ dàng trao đổi, mua bán. Bước sang thế kỷ 21, cùng với sự mở cửa của nền kinh tế, thói quen tích trữ vàng giảm đáng kể, đặc biệt đa số các giao dịch bất động sản đã được định giá bằng tiền đồng thay vì bằng vàng như trước.
Tuy nhiên, xu hướng tích trữ vàng lại xuất hiện và ngày càng lan rộng khi giá vàng liên tục có những biến động chóng mặt trong những năm gần đây. Theo báo cáo của Hội đồng Vàng thế giới, lượng vàng hiện có tại Việt Nam (lấy lượng vàng nhập khẩu trừ đi số đã xuất khẩu) khoảng 1.000 tấn, nếu quy đổi với giá hiện hành 1.880 USD thì tương đương trên 65 tỷ USD. Tuy con số này chưa được công nhận, nhưng chừng đó cũng đủ cho chúng ta tin vào việc có một lượng vàng rất lớn đang được người dân nắm giữ, đang trở thành luồng vốn hoạt động không chính thức, gây sức ép không nhỏ đến chính sách tiền tệ, tăng trưởng kinh tế.
![]() |
|
Tác động tâm lý của thị trường vàng rất lớn |
Theo TS Nguyễn Trí Hiếu, một chuyên gia về tài chính ngân hàng, giá vàng trong nước phụ thuộc chủ yếu vào giá vàng thế giới, mà giá vàng thế giới lại chịu tác động rất lớn bởi tình hình chính trị, kinh tế thế giới. Vì thế, những biến động liên tục theo hướng tiêu cực của các nền kinh tế lớn thế giới như Mỹ, Nhật, khu vực châu Âu...đã khiến các nhà đầu tư e ngại vào triển vọng phát triển kinh tế toàn cầu, do đó tập trung tích trữ vàng để đảm bảo an toàn nguồn vốn. Xu hướng này lại càng được kích thích bởi hoạt động mua gom dự trữ số lượng lớn của nhiều ngân hàng trung ương các nước lớn (chẳng hạn Trung Quốc) - những nước mà trước đây khá thờ ơ với vàng và chỉ coi USD là nguồn dự trữ ngoại tệ duy nhất.
Tác động của vàng: Lý thuyết khác xa thực tế
Xét về lý thuyết, biến động giá vàng tác động rất ít tới đời sống nhân dân và nền kinh tế. Cụ thể, nếu ở vai trò vàng trang sức, mỹ nghệ, vàng là mặt hàng xa xỉ, không phải mặt hàng thiết yếu nên giá vàng tăng không ảnh hưởng tiêu cực tới người dân. Với vao trò là nguyên liệu đầu vào thì giá vàng biến động cũng không mấy ảnh hưởng tới sản xuất vì phạm vi sử dụng rất hẹp, đầu ra sản phẩm chủ yếu phục vụ một số ít giàu có trong xã hội.
Cùng với đó, giá vàng tăng cao không phải là nguyên nhân sinh ra lạm phát, bởi vàng không nằm trong rổ hàng hóa tính chỉ số giá tiêu dùng CPI; sản phẩm sử dụng vàng làm nguyên liệu rất ít như đã nói ở trên nên cũng không tác động gián tiếp tới CPI được.
Tuy nhiên trên thực tế, theo TS Đỗ Thị Thủy, ngân hàng VietinBank, giá vàng tăng cao gây ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của chính sách tiền tệ và ổn định kinh tế vĩ mô trong trung hạn. Cụ thể, giá vàng tăng ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng huy động nguồn vốn của khu vực tài chính: Khi giá vàng tăng, người dân rút tiết kiệm để đầu tư vàng thay vì gửi tiết kiệm tại ngân hàng, nguồn vốn của nhiều tổ chức, cá nhân cũng loanh quanh ở thị trường vàng và ngoại tệ dẫn đến khả năng huy động vốn của các ngân hàng thương mại bị giảm sút, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Bên cạnh đó, khi giá vàng tăng, nhu cầu mua USD trên thị trường tự do để nhập khẩu vàng lậu lớn dẫn đến tỷ giá USD tăng, khó kiểm soát; thâm hụt cán cân thương mại gia tăng; khó khăn cho việc điều hành chính sách tiền tệ...
![]() |
|
Lại kiến nghị lập sàn vàng quốc gia để ổn định thị trường |
Cùng chung quan điểm này, TS Nguyễn Trí Hiếu cho rằng vàng có tác động lớn tới nền kinh tế, có khả năng liên thông với USD và nếu cả hai cùng tăng giá thì ảnh hưởng rất lớn tới nền kinh tế, đặc biệt trong thời điểm hiện tại lạm phát của Việt Nam rất cao.
Sự tăng giá vàng và USD sẽ gây tác động tâm lý tới hành vi tiêu dùng, dẫn tới việc tích trữ vàng để đảm bảo an toàn đồng vốn của người dân và thậm chí đầu cơ vàng của một số tổ chức, cá nhân, gây rối loạn thị trường, thiệt hại cho người dân tham gia đầu tư theo tâm lý đám đông.
Về lâu dài, những biến động giá vàng quá lớn của thị trường trong nước, thậm chí vượt xa giá vàng thế giới, sẽ tác động tiêu cực tới giá trị đồng bản tệ, kéo theo những thiệt hại lớn cho nhà nhập khẩu, khó khăn trong kiểm soát lạm phát...
Cần một sàn vàng quốc gia
Có thể nói, vàng không còn là vấn đề nhỏ của các nhà kinh doanh, mà đang thực sự trở thành một lực lượng thị trường có khả năng chi phối cả tiết kiệm, đầu tư, cán cân thanh toán, dự trữ ngoại tệ và hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế. Để ổn định thị trường này, cần có sự tham gia tích cực của các cơ quan quản lý, toàn thể người dân và doanh nghiệp...Xét về mặt vĩ mô, một trong những căn nguyên cơ bản của cơn sốt vàng là lạm phát, do đó muốn giải quyết vấn đề của vàng thì phải có biện pháp giảm lạm phát để tăng niềm tin vào đồng nội tệ, bớt đổ xô vào gom giữ vàng, ngoại tệ.
Về các biện pháp cụ thể, TS Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, Chính phủ cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, quy định chặt chẽ về giao dịch vàng và đặc biệt là lập trung tâm giao dịch vàng quốc gia - điều kiện tiên quyết ổn định thị trường vàng. Đây cũng là kiến nghị của nhiều chuyên gia kinh tế tại hội thảo Tác động của thị trường vàng đến nền kinh tế Việt Nam vừa Uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia tổ chức.
"Tuy nhiên, sự ổn định của thị trường vàng trong điều kiện hiện nay vẫn phụ thuộc rất lớn vào ý thức của các thành phần kinh tế; khi lạm phát cao sự tin tưởng vào nội tệ thấp, khó tránh khỏi tình trạng người dân và doanh nghiệp tìm đến vàng như một nơi trú ẩn an toàn. Vì thế, Nhà nước cần tăng cường kiểm soát ngăn chặn đầu cơ vàng - nhân tố quan trọng trong việc thổi giá vàng trong nước cao hơn giá thế giới thời gian qua" - TS Hiếu nói.
Trước vấn đề tích trữ vàng theo xu hướng các ngân hàng trung ước các nước đang triển khai, TS Nguyễn Trí Hiếu cho biết, dự trữ ngoại hối của Việt Nam vẫn dựa trên đồng USD, và lượng vàng tích trữ thấp: "Tôi không kiến nghị Việt Nam tham gia vào cuộc đua tích trữ vàng bởi dự trữ ngoại hối của Việt Nam rất nhỏ, khoảng 2 tháng trên tổng giá trị nhập khẩu, trong khi cần tới 3 tháng. Mình còn dưới mức trung bình nên vấn đề của mình là làm sao cho đủ, chứ không phải là vấn đề an toàn".
3 Nov, 2010
Tác động của giá vàng
Giá vàng trồi sụt rất thất thường tác động như thế nào đến tỷ giá và nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam? Dưới đây là phân tích của ông Trần Trọng Quốc Khanh, Giám đốc Trung tâm Vàng Ngân hàng Á Châu - ACB.
Trong những năm vừa qua, giá vàng thế giới tăng khoảng 20-25%/năm. Sự tăng giá bền vững của vàng thế giới là một trong những nguyên nhân chính khiến giá vàng trong nước tăng theo. Đến giữa tháng 10/2010, giá vàng thế giới đã tăng 25% vượt qua sự kỳ vọng của nhiều nhà đầu tư dù năm 2010 chưa kết thúc.
Vàng tăng giá do nhiều nguyên nhân chi phối. Trước hết, nền kinh tế thế giới chưa thực sự hồi phục, cụ thể nền kinh tế Mỹ được xem là đầu tàu kinh tế thế giới chưa thoát khỏi sự suy yếu. Các nhà đầu tư tỏ ra mất niềm tin vào tiền giấy, cụ thể là đôla Mỹ, nên tìm nơi trú ẩn an toàn vào vàng.
Ngoài ra, ngày 3/11 tới, Mỹ có thể sẽ thực thi vòng hai chính sách nới lỏng định lượng với tổng trị giá kế hoạch cả gói ước tính một nghìn tỷ USD. Khối lượng cung tiền khổng lồ này sẽ tiếp tục hỗ trợ gia vang trong ngắn hạn.
Song song đó, kế hoạch bán vàng giai đoạn 3 cho thời kỳ 5 năm từ 2009 đến 2014, các ngân hàng trung ương châu Âu chỉ mới bán 6,2 tấn vàng cho năm thứ nhất của giai đoạn này. Và đến nay họ đã tạm ngưng bán vàng, làm giảm thiểu một nguồn cung đáng kể cho thị trường kim loại quý.
Trong khi một số ngân hàng trung ương khác lại bắt đầu quan tâm đến việc gia tăng dự trữ vàng thay vì dự trữ USD, chẳng hạn như Nga, Ấn Độ và đặc biệt là Trung Quốc. Quý 1/2009, Trung Quốc chỉ giữ 600 tấn vàng. Sang quý 2, quốc gia này đã mua thêm 454 tấn, đưa tỷ lệ dự trữ tăng mạnh đến 1.054 tấn. Sự tăng giá bền vững của vàng thế giới là một trong những nguyên nhân chính khiến giá vàng trong nước tăng theo và hiện xác lập mặt bằng giá khá cao.
Các yếu tố trên cho thấy về hình thức vàng đã tăng giá, nhưng về bản chất chính là sự mất giá của USD. Và những biến động của giá vàng sẽ gây ra một số tác động cụ thể đối với tỷ giá và nền kinh tế.
Tác động của vàng đối với tỷ giá
Trong giai đoạn 5 năm 2006-2010, tỷ giá ngoại tệ USD so với đồng Việt Nam (VND) được điều chỉnh linh hoạt theo cung cầu ngoại tệ của thị trường và tình hình kinh tế vĩ mô (Xem Bảng thống kê điều chỉnh tỷ giá đính kèm). Sự điều chỉnh tỷ giá USD/VND xuất phát từ nhiều yếu tố kinh tế cơ bản khác nhau, chủ yếu là do (i) cán cân thương mại mất cân đối, (ii) giải pháp kỹ thuật hạn chế nhập siêu, và (iii) chính sách khuyến khích xuất khẩu. Tính từ năm 2008 đến nay, bình quân mỗi năm tỷ giá được điều chỉnh tăng khoảng 5%.
Vàng không được xem là một thước đo hoặc một loại hàng hóa chủ lực trong chính sách điều tiết hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu và điều hành chính sách vĩ mô của Nhà nước. Tuy nhiên, khi vàng tăng giá mạnh, những hệ quả của sự tăng giá đó vẫn gây ra những tác động vừa trực tiếp, vừa gián tiếp đối với tỷ giá USD/VND như trong những năm vừa qua.
Khi giá vàng tăng với mức tăng trung bình từ 20-25%/năm, các nhà đầu tư trên thị trường tài chính không thể không chú ý đến vàng, nhất là khi những loại tài sản khác như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, bất động sản v.v… chưa mang lại hiệu quả sinh lợi như mong đợi. Nói cách khác, nhà đầu tư sẽ có xu hướng chuyển dịch một phần vốn vào vàng để vừa đa dạng hóa danh mục đầu tư, vừa hướng tới mục tiêu sinh lợi kỳ vọng.
Kể từ tháng 06/2008, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tạm thời không cấp hạn mức (quota) nhập khẩu vàng cho các doanh nghiệp kinh doanh vàng và các ngân hàng thương mại như trước đó, trừ trường hợp nhập khẩu can thiệp thị trường.
Có thể nói cung cầu vàng trong nước không còn liên thông với thế giới nữa. Vì nguồn cung vàng trong nước bị gián đoạn, bị thắt cổ chai và thiếu tính liên tục tại một số thời điểm nhất định do cái “van” nhập khẩu đang tạm khóa, nên chỉ cần nhà đầu tư muốn mua vàng, giá vàng trong nước sẽ tăng lên. Khi lực cầu không được đáp ứng đầy đủ, giá vàng trong nước sẽ tăng mạnh và nhanh hơn ở thế “lệch pha trên” so với giá vàng thế giới với mức chênh lệch giá có khi lên đến hơn 1 triệu đồng/lượng vàng như đã từng xảy ra.
- Trường hợp không cho phép nhập khẩu vàng chính thức
Ở tình huống mất cân đối cung cầu này, nếu không cho phép nhập khẩu chính thức và nếu mức chênh lệch giá quá hấp dẫn, sẽ có một khối lượng nhập khẩu vàng “không chính thức” vào Việt Nam qua các đường biên giới giáp ranh với Campuchia, Lào và Trung Quốc để giải tỏa “cơn khát” vàng trong nước. Để “nhập” được số vàng này, một số đầu mối phải tích cực thu gom USD trên thị trường tự do để thanh toán số vàng nhập khẩu đó, tạo sức cầu và sự khan hiếm “cục bộ” đối với tiền mặt USD.
Giá USD ở thị trường tự do tăng sẽ gây tác động tâm lý làm cho một bộ phận người dân và các doanh nghiệp đang có USD lại càng muốn găm giữ ngoại tệ này, không bán cho các ngân hàng. Do không mua đủ số ngoại tệ cần thiết từ các cá nhân và doanh nghiệp, các ngân hàng không thể giải quyết bán đủ số USD cho các đơn vị có nhu cầu thanh toán ngoại tệ hợp pháp, vừa gây chậm trễ trong thanh toán quốc tế, vừa gây căng thẳng cho thị trường ngoại tệ.
Do tình trạng thâm hụt mậu dịch bị mất cân đối trong một thời gian dài (Xem Bảng tóm tắt mức thâm hụt mậu dịch đính kèm) và do gia vang vẫn tiếp tục tăng chưa có điểm dừng, thực tế cho thấy trong một số tình huống NHNN phải điều chỉnh tỷ giá chính thức theo “tín hiệu đón đầu” của tỷ giá tự do, khi mà người cần ngoại tệ và người có ngoại tệ đã xác lập trước một mức tỷ giá kỳ vọng mới. Đây là tình huống tỷ giá USD/VND tăng trong bối cảnh không cho nhập khẩu vàng chính thức.
- Trường hợp cho phép nhập khẩu vàng chính thức
Nếu NHNN cho nhập khẩu vàng chính thức, một lượng ngoại tệ cũng sẽ được chi ra từ hệ thống ngân hàng để thanh toán tiền nhập khẩu vàng. Có thể nói rằng trong bối cảnh gia vang tăng và nhiều nhà đầu tư đang muốn mua vàng, việc nhập khẩu vàng bằng con đường chính thức hay không chính thức cũng đều tác động lên cung cầu ngoại tệ và gây áp lực lên tỷ giá.
Đây cũng chính là thế “tiến thoái lưỡng nan” mà NHNN luôn luôn đối diện khi xử lý vấn đề nhập khẩu vàng. Tuy nhiên, việc nhập khẩu vàng chính thức vẫn được xem là giải pháp tích cực hơn, vì Nhà nước sẽ đạt được nhiều mục tiêu khác nhau như (i) kiểm soát được số lượng nhập khẩu, (ii) kiểm soát được doanh thu của các đơn vị nhập khẩu vàng, (iii) chủ động tăng nguồn cung vàng trong nước, (iv) giảm bớt sự căng thẳng tâm lý muốn mua vàng của người dân, (v) ngặn chặn tình trạng đầu cơ “đục nước béo cò”, (vi) gia tăng tính công khai minh bạch trong chính sách quản lý thị trường vàng, và (vii) chủ động điều chỉnh tỷ giá khi cần thiết, thay vì để cho thị trường tự do thản nhiên thao túng.
Trong 2 năm 2009-2010 vừa qua, vàng không phải là nguyên nhân làm tiêu tốn ngoại tệ, mà ngược lại còn góp phần đáng kể trong việc cải thiện cán cân thương mại. Với mức xuất siêu vàng (xuất vàng nhiều hơn nhập vàng) khoảng 60 tấn/năm, các doanh nghiệp kinh doanh vàng đã mang về khoảng 2,5 tỷ USD trong 9 tháng đầu năm (Xem Bảng tóm tắt số liệu xuất nhập khẩu vàng đính kèm). Tuy nhiên, sự đóng góp từ kim ngạch xuất siêu vàng chỉ giúp giảm bớt mức thâm hụt mậu dịch trong ngắn hạn. Vấn đề cốt lõi đó là sự mất cân đối trong cán cân thương mại trong suốt một thời gian dài luôn gây áp lực trực tiếp lên tỷ giá, không nhất thiết xuất phát từ vàng.
Tác động của vàng đối với nền kinh tế: xem thêm chi tiết tại Vnexpress.net
Th.S Trần Trọng Quốc Khanh
GĐ Trung tâm Vàng Ngân hàng Á Châu - ACB
TGĐ Công ty CP Sài Gòn Kim Hoàn ACB-SJC
3 Nov, 2010
Lựa chọn sàn gỗ như ý
Lựa chọn sàn gỗ như ý
Với tất cả những thông tin dưới đây, bạn đã hoàn toàn có thể tự lựa chọn cho mình một giải pháp phù hợp nhất, kinh tế nhất, tiện dụng nhất và sang trọng nhất.
1. San go công nghiệp
Sàn gỗ công nghiệp chắc chắn sẽ là sự lựa chọn hợp lý mà bạn nên nghĩ đến đầu tiên và đây cũng là xu hướng chung của các đô thị hiện đại.
Sàn gỗ công nghiệp là một loại vật liệu mới với nhiều tính năng ưu việt hơn các loại vật liệu thông dụng dùng để lát sàn như thảm, gỗ tự nhiên, đá, gạch men, gạch bông, ...
Sàn gỗ công nghiệp thường có 4 lớp:
- Lớp vật liệu đặc biệt (Melamine resins) trong suốt, có tác dụng ổn định lớp bề mặt, tạo lên lớp bề mặt vững chắc, chống nước, chống xước, chống va đập, chống phai màu, chống sự xâm nhập của các vi khuẩn và mối mọt, chống lại các tác dụng của hoá chất và dễ dàng lau chùi và bảo dưỡng.
- Lớp phim tạo vân gỗ tự nhiên: Lớp vân gỗ này được lớp thứ nhất bảo vệ nên luôn giữ được màu sắc và vân gỗ không thay đổi trong suốt quá trình sử dụng.
- Lớp lõi bằng gỗ HDF (High Density Flywood) được tạo thành bởi 80-85% chất liệu là gỗ tự nhiên, còn lại là các phụ gia làm tăng độ cứng và kết dính cho gỗ.
- Lớp tráng phía dưới của tấm ván sàn bằng vật liệu tổng hợp đặc biệt có tác dụng ổn định bề mặt dưới, chống mối mọt, cong vênh, chống nước.
Cách lựa chọn san go công nghiệp
Hầu hết mọi người mua san go công nghiệp đều đối mặt với việc phải lựa chọn trong số rất nhiều loại sàn khác nhau.
Với kết cấu mộng đơn (phải dùng keo) hoặc mộng kép (không phải dùng keo), với các loại lõi HDF, MDF, hoặc một loại đặc biệt nào đó, với các loại màu sắc và vân gỗ khác nhau, với các phân loại cho từng mục đích sử dụng và các mức độ chống xước khác nhau.
Bạn lưu ý là rất dễ nhận thấy biểu tượng phân loại trên bao bì sản phẩm, đó là dấu hiệu rõ nhất cho biết sản phẩm có phù hợp với nhu cầu sử dụng hay không, bởi vì chúng khác nhau, nếu loại sàn dùng cho phòng khách, phòng ngủ hoặc cầu thang.
Sàn ở phòng khách được sử dụng thường xuyên hơn ở phòng ngủ, cầu thang được sử dụng nhiều hơn ở phòng khách.
Chính vì vậy điều quan trọng khi chọn mua sàn gỗ là chọn dúng dòng sản phẩm phù hợp với nhu cầu sử dụng.
Ưu điểm và hạn chế của sàn gỗ công nghiệp
Ưu điểm:
Giá thành phù hợp, so với gạch men chỉ đắt hơn một chút nhưng tính năng sử dụng, tính thẩm mỹ và độ sang trọng thì hơn nhiều. So với gỗ tự nhiên thì rẻ hơn nhiều nhưng tính năng sử dụng, tính thẩm mỹ và độ sang trọng không những cũng tương đương mà còn đa dạng hơn vè màu sắc và không bị biến dạng theo thời tiết.
Lắp đặt nhanh, sạch sẽ và có thể sử dụng ngay sau khi lắp đặt.
Mầu sắc đa dạng, có nhiều kiểu vân gỗ rất tự nhiên và sang trọng.
Ít bị trầy xước, mài mòn, không bị phai màu.
Không bị mối mọt, cong vênh, co ngót dưới tác động của thời tiết.
Chịu nhiệt độ cao, hạn chế bén lửa, chống cháy đối với tàn thuốc lá
Chống bám bẩn, vệ sinh dễ dàng
Tạo lên một môi trường sống có lợi hơn cho sức khoẻ.
Hạn chế:
Cũng như gỗ tự nhiên, sàn gỗ công nghiệp có khả năng chịu nước không cao bằng gạch men, mặc dù đã được phủ lớp chống nước cho cả hai mặt, nhưng nếu sàn bị ngập nước do mưa hoặc nước tràn từ ngoài vào.
Các mối ghép có thể bị ngấm nước và nở ra, làm cho sàn bị phồng lên và các mối ghép không còn được khít như trước. Chính và vậy độ bền của sàn gỗ phụ thuộc rất nhiều vào người sử dụng.
Chỉ nên dùng khăn / ghẻ ướt để vệ sinh sàn, không nên đổ cả xô nước lên sàn để rửa sàn, không nên để nước mưa hắt hoặc tràn vào sàn.
2. Sàn gỗ tự nhiên
Giá thành: Khoảng 300.000-950.000/m2 tuỳ loại
Chúng có độ bền phụ thuộc vào chất liệu gỗ.
Mỗi loại gỗ chỉ có một loại vân mầu, sự lựa chọn chỉ giới hạn trong một số loại gỗ nhất định. Cũng như sàn gỗ công nghiệp, sàn gỗ tự nhiên cũng mang đến vẻ đẹp và sự sang trọng cho căn phòng. Nhưng do hạn chế và nguồn nguyên liệu gỗ tự nhiên nên sự đồng nhất về chất liệu và màu sắc còn hạn chế.
Đối với sàn gỗ tự nhiên việc lau chùi bảo dưỡng khó khăn hơn sàn gỗ công nghiệp do vẫn còn khe hở giữa các mối ghép.
Tính cơ động không cao, việc sửa chữa, thay thế kho khăn do san go tự nhiên thường liên kết bằng mộng đơn, phải sử dụng thêm đinh hoặc keo để kết nối.
Kết luận chung:
Nếu bạn muốn sử dụng sàn gỗ tự nhiên thì nên xin tư vấn thêm từ các nhà thiết kế thật kỹ vì nó đẹp, sang trọng, tiện dụng, nhưng vẫn có thể bị mối mọt, cong vênh, co ngót và giá thành rất cao.
Theo VnEtips
25 Oct, 2010
Thông tin pháp luật, dịch vụ pháp lý trực tuyến
Với mong muốn góp phần phổ biến luật pháp, hỗ trợ các tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ pháp lý, ngày càng nhiều website trực tuyến đã ra đời. Những website, trang thông tin pháp luật, dịch vụ pháp lý trực tuyến chủ yếu được xây dựng và pháp triển bởi hai nhóm: nhóm những người hoạt động trong lĩnh vực luật pháp luật sư, văn phòng luật sư) và nhóm những người hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin.
Những người tiên phong trong lĩnh vực cung cấp thông tin luật pháp, các bộ luật, luật của Việt Nam online cũng như những dịch vụ pháp lý liên quan đã gặp không ít khó khăn trong quá trình hình thành và phát triển. Hầu hết những khó khăn đều xuất phát từ yếu tố môi trường hoạt động mới. Môi trường Internet có rất nhiều lợi thế nhưng cũng có những hạn chế khác biệt so với môi trường hoạt động truyền thống.
Với những người có kinh nghiệm hoạt động trong môi trường trực tuyến, khó khăn là hạn chế trong hiểu biết về hệ thống thông tin pháp luật, các luật, bộ luật, văn bản liên quan. Với những luật sư, văn phòng luật sư, khó khăn là hạn chế trong hiểu biết về công nghệ thông tin, môi trường trực tuyến.
Làm thế nào để khai thác những lợi thế mới và hạn chế những điểm khác biệt, tạo ra những giá trị và hiệu quả thiết thực là một chặng đường gian nan. Một tín hiệu đáng mừng có thể thấy là trong những năm gần đây, hầu hết các website thông tin luật pháp, các bộ luật, luật của Việt Nam online cũng như những dịch vụ pháp lý liên quan đang ngày càng hoàn thiện, cả về nội dung và hình thức.
Với những thành quả đã đạt được, chúng ta đã có được một nền tảng, mặc dù còn hạn chế nhưng đủ để phát triển hệ thống thông tin pháp luật, dịch vụ pháp lý trực tuyến tốt phục vụ cộng đồng.
Bộ luật Dân sự | : Bộ luật Dân sự và văn bản liên quan |
Bộ luật Hình sự | : Bộ luật Hình sự và văn bản liên quan |
Bộ luật Lao động | : Bộ luật Lao động và văn bản liên quan |
Luật Thương mại | : Luật Thương mại và văn bản liên quan |
Luật Phá sản | : Luật Phá sản và văn bản liên quan |
Luật Cạnh tranh | : Luật Cạnh tranh và văn bản liên quan |
Luật Quảng cáo | : Luật Quảng cáo và văn bản liên quan |
Luật Hải quan | : Luật Hải quan và văn bản liên quan |
Luật Thuế thu nhập cá nhân | : Luật Thuế thu nhập cá nhân và văn bản liên quan |
Luật Hôn nhân Gia đình | : Luật Hôn nhân Gia đình và văn bản liên quan |
Luật Thừa kế | : Luật Luật Thừa kế và văn bản liên quan |
Luật Thủ đô | : Luật Luật Thủ đô và văn bản liên quan |
Luật Xuất bản | : Luật Xuất bản và văn bản liên quan |
Luật Báo chí | : Luật Báo chí và văn bản liên quan |
Luật Công chứng | : Luật Công chứng và văn bản liên quan |
Luật Bảo hiểm xã hội | : Luật Bảo hiểm xã hội và văn bản liên quan |
Luật Bảo hiểm y tế | : Luật Bảo hiểm y tế và văn bản liên quan |
Luật Giao thông đường bộ | : Luật Giao thông đường bộ và văn bản liên quan |
25 Oct, 2010
Dịch vụ pháp luật Việt Nam – Hãy chờ xem!
Văn phòng luật sư với các dịch vụ pháp lý về Thương mại sẽ phát triển mạnh ở Việt Nam trong thời gian tới.
Xã hội phát triển nào cũng cần có sự minh bạch cửa pháp lý. Trong đó, luật kinh doanh là một phần quan trọng, không thể thiếu.
Chưa bao giờ ngành nghề luật sư thương mại ở Việt Nam được nhắc đến nhiều như thời điểm này. Cũng dễ hiểu khi nhu cầu cung cấp dịch vụ pháp lý đang ngày càng tăng. Đó là kết quả tổng hợp của nhiều tác động tích cực từ nhiều phía.
Miền đất hứa cho ngành nghề luật sư việt Nam
Nền kinh tế nước ta đang phát triển từng ngày. Hệ thống các văn bản luật ngày càng hoàn thiện, chặt chẽ. Đặc biệt là "dấu son" Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).
Việt Nam - WTO đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp Việt Nam cũng đặt chân vào sân chơi "không biên giới", ẩn chứa cả cơ lẫn nguy. Luật sư Lưu Văn Tám (Hội đồng Luật sư Quốc gia) cho biết, nhiều luật sư trẻ bây giờ là đồng nghiệp, cũng là "đối thủ của ông ngay từ giai đoạn Việt Nam đang đàm phán vào WTO. Họ đã có kế hoạch thành lập Văn phòng Luật sư riêng.
Chúng ta từng phải liên tục đối mặt với các vụ kiện bán phá giá, liên quan
đến con cá, con tôm, các mặt hàng công nghiệp như dệt may, da giày... Hay vụ thua kiện pháp lý của Tổng Công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines), cũng là lời cảnh tỉnh đối với các doanh nghiệp, vừa thiếu thông tin và cả hiểu biết về Luật thương mại quốc tế.
Chẳng đâu xa, ngay cả Luật thương mại trong nước vẫn còn là điều gì đó “uyên bác" đối với nhiều doanh nghiệp, nhất là khi đại đa số đều có quy mô vừa và nhỏ. Trong đó, vô số doanh nghiệp ra đời và phát triển một cách tự nhiên, thiếu thông tin và hiểu biết và pháp lý...
Ai cũng mong muốn kinh doanh thành công và bền vững. Do vậy, tìm đến chuyên gia tư vấn để giảm thiểu rủi ro liên quan đến pháp lý là việc cần thiết. Đó cũng là tiền đề để người ta nhận diện một "miền đất hứa" của nghề Luật sư Việt Nam.
Mở cửa cho nghề “thầy cãi”
Pháp lệnh Luật sư ra đời đầu tiên vào năm 1987, công nhận chính thức nghề luật sư tại Việt Nam. Thời điểm đó, nghề này chưa phát triển. Các văn phòng luật sư chỉ xuất hiện lưa thưa.
Luật Doanh nghiệp ra đời năm 2000, đi đôi với nhiều nguồn đầu tư nước ngoài đổ vào Việt Nam, tạo nhiều "đất" hơn cho các luật sư. Pháp lệnh Luật sư năm 2001 ra đời, góp phần chuyên nghiệp hóa dần các hoạt động và dịch vụ pháp lý.
Nền kinh tế phát triển nhanh chóng. Số lượng doanh nghiệp tăng nhanh. Nhu cầu dịch vụ pháp lý cho doanh nghiệp cũng tăng theo.
Chính từ những thuận lợi trên, nhiều văn phòng luật sư đã ra đời, trong đó có nhiêu vân phòng chuyên về Luật Kinh doanh. Tính chung từ sau Pháp lệnh Luật sư có hiệu lực, các tổ chức hành nghề luật sư ra đời trải dài khắp cả nước, lên đến con số hàng ngàn, trong đó bao gồm cả các đại diện của nước ngoài.
Đặc biệt, Luật Luật sư năm 2006 ra đời, góp phần nâng tầm nhận thức và chuyên nghiệp hóa hơn nứa vai trò của nghề luật sư.
Trong nội dung của Luật Luật sư mới ban hành này, các tổ chức hành nghề luật sư, văn phòng luật sư đã được xem là những doanh nghiệp. Luật sư trong những tổ chức này cong được thừa nhận là “người kinh doanh". Sản phẩm chính là các dịch vụ pháp lý mà nghề này cung cấp.
Ngoài ra, còn có hình thức luật sư hành nghè tự do. Nghĩa là họ không còn đăng ký văn phòng, không phải đóng thuế thu nhập doanh nghiệp, mà chỉ cần có chứng chỉ hành nghề. Điều này cho thấy hoạt động tư vấn pháp lý sẽ thuận lợi hơn nhiều, giảm bớt thủ tục rườm rà.
Chỉ còn nhìn số liệu thống kê cũng đủ thấy ngành nghề luật sư phát triển mạnh mẽ đến mức nào trong thời gian qua. Năm 2005, cả nước chỉ có khoảng 700 văn phòng luật sư. Hơn một năm sau, tổng số văn phòng luật sư đã nâng lên gần 1.200, tức tăng khoảng 500. Đó là chưa kể đến các luật sư hành nghề tự do, với con số cũng không nhỏ.
Cầu kích cung
Theo luật sư Đinh Văn Thảo (Đoàn Luật sư TP. HCM), nguyên nhân khiến số lượng văn phờng luật sư tăng nhanh, một phàn do người dân đã am hiểu pháp luật hơn.
Trước đây, mỗi lần nói đến kiện tụng, ra tòa, ai cũng “dị ứng". Bây giờ, họ không còn e ngại. Một minh chứng là gần đây, có người đã gửi đơn kiện một đơn vị thi công, thực hiện công trình công cộng, gây ảnh hưởng đến thu nhập của họ.
Song song với dân trí vè pháp lý ngày càng tăng, nhu cầu về pháp lý của các doanh nghiệp cũng rất lớn.
Do vậy, sự có mật của luật sư trong giao dịch làm ăn đã chiếm một vi trí quan trọng.
Thực tế cho thấy, nhu cầu vè dịch vụ pháp lý đang rất lởn. Chẳng hạn như Công ty Luật Gia Phạm, ra đời từ năm 2001, đến nay, số khách hàng của họ đã đạt đến 12.000 doanh nghiệp.
Cần nhiều yếu tố mới có thể thành công
Dự báo các văn phòng luật sẽ tăng mạnh trong thời gian tới là có cơ sở. Một luật sư ở TP. HCM từng đề cập đến cái đích 10.000 luật sư trong năm 2010. Như thế cũng có nghĩa là khoảng bao nhiêu người đó có khả năng mở văn phòng luật sư. Tuy nhiên, nói như luật sư Lê Đức Bình, thuộc Đoàn Luật sư TP. HCM, mở văn phòng luật không khó. Nhưng để hoạt động và phát triển mạnh mẽ, không phải chuyện dễ.
Đây là ngành nghê khá đặc thù, đòi hỏi các luật sư phải có nhiều kinh nghiệm và có tiếng trong nghề. Không nên mở văn phòng luật ồ ạt khi không hội đủ các yếu tố về kinh nghiệm cũng như quản lý.
Nhiều luật sư vừa mới ra trườnp được cấp bằng hành nghề là mở văn phòng ngay, để rồi cũng chỉ tiếp... bạn là chính. Do đó, ngay từ đầu, các luật sư phải trải qua một quá trình khẳng định tên tuổi trước khi thành lập văn phòng tư vấn riêng.
Cái khó về tên tuổi, trình độ, sau một thời gian có thể được khắc phục và bổ sung. Còn ở đây, yếu tố quyết định đến sự phát triển của các văn phòng luật chính là trình độ dân trí đối với pháp lý.
Theo luật sư Lưu Văn Tâm (Hội đồng Luật sư Quốc gia), các văn phòng dù có luật sư giỏi đến mấy mà không được doanh nghiệp tin tưởng, cũng không thể hoạt động lâu dài.
Một yếu tố, cùng là khó khăn của các luật sư Việt Nam, là vốn ngoại ngữ. Phải thừa nhận rằng hiện tại, luật sư Việt Nam nói chung mới chỉ dừng lại ở việc tư vấn về pháp lý cho các doanh nghiệp trong nước. Họ chưa thể giúp doanh nghiệp được yên tâm trên sân chơi lớn của quốc tế.
Một lãnh đạo trong Ban chủ nhiệm Đoàn Luật sư TP. HCM đã nói về vấn đề này: "Tư vấn về những tranh chấp nước ngoài rất hiếm. Hiện nay, các luật sư Việt Nam mới chỉ thực hiện tư vấn ở trong nước hoặc cho doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam, chưa có ai ra nước ngoài".
Ai thắng, ai thua trong việc tìm chỗ đứng trên thị trường pháp lý, chưa thể nói trước! Nhưng có thể khẳng định “thị trường” luật tại Việt Nam thời gian tới sẽ còn sôi động hơn nhiều.
Hãy chờ xem!
Nguồn: Tạp chí Thành đạt
Bộ luật Dân sự: Bộ luật Dân sự và văn bản liên quan
Bộ luật Hình sự: Bộ luật Hình sự và văn bản liên quan
Bộ luật Lao động: Bộ luật Lao động và văn bản liên quan
Luật Thương mại: Luật Thương mại và văn bản liên quan
Luật Phá sản: Luật Phá sản và văn bản liên quan
Luật Cạnh tranh: Luật Cạnh tranh và văn bản liên quan
Luật Quảng cáo: Luật Quảng cáo và văn bản liên quan
Luật Hải quan: Luật Hải quan và văn bản liên quan
Luật Thuế thu nhập cá nhân: Luật Thuế thu nhập cá nhân và văn bản liên quan
Luật Hôn nhân Gia đình: Luật Hôn nhân Gia đình và văn bản liên quan
Luật Thừa kế: Luật Luật Thừa kế và văn bản liên quan
Luật Thủ đô: Luật Luật Thủ đô và văn bản liên quan
Luật Xuất bản: Luật Xuất bản và văn bản liên quan
Luật Báo chí: Luật Báo chí và văn bản liên quan
Luật Công chứng: Luật Công chứng và văn bản liên quan
Luật Bảo hiểm xã hội: Luật Bảo hiểm xã hội và văn bản liên quan
Luật Bảo hiểm y tế: Luật Bảo hiểm y tế và văn bản liên quan
Luật Giao thông đường bộ: Luật Giao thông đường bộ và văn bản liên quan
31 Jul, 2010
Người dân đầu tư vào vàng VÌ NỖI LO KINH TẾ BẤT ỔN
Đây là thời điểm thích hợp nhất để đầu tư vào vàng- mặt hàng nóng nhất trên thế giới hiện nay? Giá vàng đã tăng cao trong vài năm gần đây và giới đầu tư đang rút khỏi thị trường này?
Giá vàng đang đi về đâu? Bong bóng giá vàng sẽ nhanh chóng nổ tung? Thị trường kim loại quý sẽ sụp đổ vì quá nóng? Những dấu hiệu hồi phục của nền kinh tế toàn cầu đang nhấn chìm dòng đầu tư vào mặt hàng này? Nỗi lo đang kích thích người dân mua vàng?
Dưới đây là một vài đánh giá của các chuyên gia về thị trường hiện nay:
”Nếu lịch sử lặp lại và thị trường chứng khoán đang trong giai đoạn giảm điểm năm thứ 10 trong vòng 16 năm qua giống như Rosenberg tin tưởng, thì chỉ số Dow- sau khi đã ấn định ngưỡng 10,097.90 hôm 16/7- sẽ còn có thể giảm xuống vùng 5000” - USATODAY.
“Tôi tin rằng nền kinh tế đang tiếp tục đi xuống và điều đó cũng có nghĩa là thị trường chứng khoán Mỹ sẽ biến động mạnh mẽ như những gì đã xảy ra vào tháng 3 năm ngoái trước khi sự điều chỉnh hiện tại được hoàn thành” – John Hussman, Hussman Funds.
“Đánh cược với vàng cũng giống như là đánh cược vào chính phủ. Và họ đã đánh cược vào chính phủ cũng như những đồng tiền của chính phủ trong suốt 6000 năm của lịch sử loài người” - Charles DeGaulle
“Giới đầu tư đã đổ xô vào vàng bởi nỗi lo về thị trường tiền tệ… Nỗi lo khủng hoảng nợ cũng như tình hình kinh tế rối ren đã khiến đồng euro mất giá và đồng dollar suy yếu mạnh. Nhu cầu toàn thế giới trượt giảm và chúng ta đang phải đối mặt với nguy cơ Đại suy thoái mới” - Richard watchman, The Guardian Observer.
”Chúng ta biết rằng lạm phát sẽ không phải là vấn đề trong năm nay và giới đầu tư sẽ không mất đi niềm tin vào chính phủ. Mặc dù đà tăng của thị trường vẫn được duy trì và vàng đã tăng gần 5 lần trong vòng 10 năm qua, so với những năm cuối của thập kỷ 60 và 70 là tăng 18 lần và mặc dù vàng vẫn là tài sản thể hiện tốt nhất trong thập kỷ qua thì mức độ yêu thích vàng của giới đầu tư cũng đã suy giảm đi” - Dominic McCormick, Money Management
“Đà hồi phục lịch sử của chỉ số Dow trong năm 1930 đã chấm dứt với mô hình đầu vai. Điều đó xảy ra sau khi thị trường chứng khoán trượt mạnh và là giai đoạn đầu tiên của xu hướng suy giảm kép trong dài hạn. Bước giảm này cũng vượt qua cả mục tiêu dự kiến là giảm 28%. Cho tới ngày hôm nay, chúng ta đang được chứng kiến chỉ số Dow đang đi theo mô hình vai đầu vai và cho thấy sự khởi đầu của một giai đoạn giảm. Đà tăng mạnh của chỉ số này đã được thiết lập hồi tháng 1, tháng 5 và tháng 6 năm nay. Và xu hướng giảm xuất hiện từ đường dốc của mô hình với mục tiêu là 8,400- tương đương với bước giảm 25%. Các chuyên gia phân tích dựa trên mô hình 1930 và cho rằng Dow có thể sẽ giảm về quanh vùng 7,500 trong năm 2010” - Daryl Guppy, Trend Trading
(giavang)
31 Jul, 2010
Euro bứt phá ngoạn mục vượt ngưỡng 1.3000$
ĐỒNG BẠC XANH CHỊU ÁP LỰC GIA TĂNG TỪ MOODY’S
Đồng bạc xanh lại tiếp tục giảm mạnh trong phiên giao dịch hôm qua bất chấp số lượng người thất nghiệp hàng tuần đã giảm đi đúng như dự đoán của nhiều người. Tuy nhiên, những thông tin bên lề khác lại không hỗ trợ cho điều này. Tiêu biểu nhất và ảnh hưởng mạnh mẽ nhất có lẽ là lời cảnh báo của các nhà lãnh đạo tổ chức xếp hạng tín dụng thế giới Moody’s gửi tới chính phủ Mỹ. Nội dung chính của lời “đe doạ” này là nếu chính phủ Mỹ vẫn không có bất kỳ chính sách tài chính khả quan nào giải quyết tình hình kinh tế suy yếu trong thời gian gần đây, thì thứ bậc tín dụng của Mỹ – hiện tại là AAA – sẽ cần được đánh giá lại. Sau khi thông tin trên được phát đi, đồng bạc xanh đã phải đối mặt với mức thấp kỷ lục trong 2 quý gần đây so với đồng tiền chung. Đóng cửa phiên giao dịch thứ Năm, chỉ số USD – Index đã giảm 40 pips xuống 81.65 điểm.
Tại phiên giao dịch vừa qua, các nhà đầu tư vào thị trường chứng khoán đã phải có một sự lựa chọn giữa hai luồng tin trái chiều. Đầu tiên, thị trường đã đón nhận hàng loạt tin tốt như: 70% công ty thuộc khu vực S&P500 có kết quả kinh doanh quý hai tốt hơn dự kiến, hay số người thất nghiệp giảm bớt, và tình hình kinh tế châu Âu đang cải thiện tốt. Ở phía còn lại là những công bố lợi nhuận gây thất vọng của các công ty thuộc khối công nghiệp và sản xuất hàng tiêu dùng, cùng với nhận định của Fed về việc rủi ro kinh tế Mỹ có thể rơi vào vòng xoáy giá cả và đầu tư đi xuống kiểu Nhật. Nhưng do “Tâm lý thị trường hiện nay đã quá bi quan. Ngay cả khi có tin tốt đưa ra, người ta cũng hết sức dè dặt với nó.” – phát biểu bởi Robert Weissentein, chuyên gia quản lý quỹ tại Credit Suisse – nên thị trường chứng khoán Mỹ đã có một phiên giảm nhẹ ở cả 3 chỉ số chứng khoán chính. Chốt phiên giao dịch, chỉ số công nghiệp Dow Jones hạ 30,72 điểm (0,29%) – xuống 10.467,16 điểm, chỉ số S&P 500 hạ 4,60 điểm (0,42%) xuống 1.101,53 điểm, chỉ số Nasdaq hạ 12,87 điểm (0,57%) xuống 2.251,69 điểm.
Hôm nay, Mỹ sẽ lại tiếp tục có nhiều thông tin kinh tế được phát đi với mọi sự tập trung đều đặt ở chỉ số GDP quý hai. Theo dự đoán của nhiều chuyên gia thì chỉ số này không mấy khả quan, cùng với những kỳ vọng vào tin lành đến từ khu vực châu Âu, có thể đồng bạc xanh phải tiếp tục đối mặt với việc rớt giá trong ngày đặc biệt là so với đồng EUR.
ĐỒNG TIỀN CHUNG XUẤT SẮC VƯỢT NGƯỠNG 1.3000$
Ngưỡng kháng cự 1.3000$ tưởng chừng như quá vững chắc khi đồng tiền chung trong tháng qua đã năm lần chạm đến nhưng chưa thể vượt qua được. Tuy nhiên, trong phiên giao dịch ngày hôm qua, dưới dự hỗ trợ từ những dữ liệu nội tại tích cực, đồng Euro đã có một cuộc bứt phá ngoạn mục khi đóng cửa ở mức 1.3076$, tăng 81 pips so với khi mở cửa. Thông tin đầu tiên hỗ trợ cho sự tăng giá này là do lợi nhuận khả quan từ các doanh nghiệp được công bố thúc đẩy thị trường chứng khoán châu Âu, góp phần làm gia tăng khả năng hứng chịu rủi ro của các nhà đầu tư. Tiếp theo, ngày hôm qua, hạ viện Ý đã thông qua kế hoạch thắt chặt chi tiêu trong vòng hai năm nhằm giảm thâm hụt ngân sách khoảng 25 tỷ Euro. Thêm vào đó, Ý cũng đã thông qua kế hoạch của quỹ hỗ trợ tài chính châu Âu, điều đó có nghĩa là khoản tiền 440 tỷ Euro sẽ được kích hoạt nhằm hỗ trợ trong việc thanh toán nợ nần cho các nước trong khu vực.
Ngày hôm nay, khu vực châu Âu không có nhiều thông tin quan trọng được công bố. Mọi động thái của thị trường đều nhắm vào bản báo cáo GDP quý hai của Mỹ. Thông tin trên dự báo sẽ có tác động rất lớn tới “đường đi” của đồng Euro trong phiên giao dịch này. Nếu như GDP quý hai của Mỹ được công bố thấp hơn con số được dự báo thì có thể sẽ tạo ra một đà tăng mạnh cho đồng tiền này.
VÀNG ĐƯỢC HỖ TRỢ BỞI THÔNG TIN TỪ MỸ
Dường như những dữ liệu ảm đạm từ Mỹ đang góp phần làm gia tăng nhu cầu tích trữ kim loại quý khiến vàng đã có phiên tăng giá thứ hai trong tuần khi đóng cửa mở mức 1168.05 USD/oz, tăng 4.65 USD so với mức mở cửa 1163.4 USD/oz. Cho tới thời điểm hiện tại, vàng đã giảm 7.9% so với mức cao kỷ lục 1266.5 vào ngày 21 tháng Sáu. Đây cũng là thời điểm mà quỹ đầu tư vào vàng lớn nhất thế giới SPDR Trust có khối lượng nắm giữ thấp nhất trong vòng hai năm trở lại đây.
Trong thời gian gần đây, khi nỗi lo cuộc khủng hoảng nợ ở châu Âu đã dịu xuống thì áp lực giảm giá của vàng vẫn còn bởi nhà đầu tư sẽ tiếp tục bán vàng để mua Euro. Tuy nhiên, trong ngắn hạn thì những khoản nợ của các nước châu Âu không thể biến mất hoàn toàn, bởi vậy vẫn còn nhiều nhà đầu tư đặt niềm tin rằng vàng sẽ tăng giá trở lại. Bên cạnh đó, nhu cầu về vàng vật chất hiện tại từ phía Ấn Độ, Trung Quốc và các nước khu vực châu Á dường như đã tăng mạnh hơn trong đợt giảm giá vừa rồi.
Trong phiên giao dịch ngày hôm nay, những thông tin từ phía Mỹ mà quan trọng nhất là số liệu về GDP của quý hai sẽ là tâm điểm dẫn dắt hướng đi của vàng. Dự báo vàng sẽ tăng giá nhẹ.
(eximbank)
3 Jun, 2010
Thế giới ngập trong nợ nần
![]() |
| Tiết lộ mới đây của tạp chí The Economist cho thấy tới tháng 2/2010, tổng giá trị nợ của tất cả các nước trên thế giới đã vượt qua mốc 36.000 tỷ USD |
Tiếp nối nỗi hoảng sợ do khủng hoảng nợ của Hy Lạp, tin tức về nợ của một loạt nước trên thế giới – từ các nước phát triển đến các nước đang nổi, lan tỏa nhanh chóng, báo hiệu một triển vọng không mấy sáng sủa của kinh tế thế giới. Những cảnh báo về nguy cơ một “cuộc khủng hoảng nợ” bắt đầu rộ lên.
36.000 tỷ USD hay là hơn?
Thế giới những ngày này dõi theo từng “nhất cử nhất động” trên thị trường Hy Lạp - nước hiện đang phải gánh một núi nợ khổng lồ - lên tới 300 tỷ euro, chiếm 124 % tổng sản phẩm quốc nội (GDP) năm 2009, thuộc loại nhiều nhất tại châu Âu. Nhưng như một cái nhọt lâu ngày cũng phải bung ra, những tin tức về nợ công không ngừng tỏa đi từ châu Âu: tổng giá trị nợ của Italia - nước đang đứng bên bờ vực khủng hoảng, chiếm 118% GDP; Đức - nền kinh tế mạnh nhất khu vực đã nợ tới 1.700 tỷ euro, tăng 7,1% và vượt quá mức 70% GDP - mức tăng cao thứ hai kể từ sau Chiến tranh Thế giới thứ II. Nợ công của Pháp cuối năm 2009 đã lên xấp xỉ 1.500 tỷ euro, tương đương với 82,6 % GDP. Một số nước như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Aixơlen, Ailen cũng đang lâm tình cảnh nợ nần bi đát.
Tổng giá trị nợ của khu vực sử dụng đồng Euro chiếm 84% GDP của khối và ngày càng khiến cộng đồng quốc tế lo lắng. Năm 2009, nợ trung bình của cả Liên minh châu Âu (EU) chiếm 73% GDP của khối này, trong khi nợ của 16 nước thuộc khu vực đồng tiền chung euro là 78% GDP.
Trong khi đó, con số nợ của những nền kinh tế hàng đầu thế giới cũng làm giật mình bất kỳ ai: Số liệu Bộ Tài chính Nhật Bản công bố ngày 10/5 cho thấy tổng nợ của nước này chiếm tới 229% GDP, đứng đầu trong số các nước thành viên của Tổ chức Hợp tác Kinh tế (OECD), và có xu hướng tiếp tục tăng trong 5 năm tới. Với Mỹ, nước này hiện là con nợ lớn hàng đầu thế giới với tổng số nợ lên tới 13.000 tỷ USD, chiếm khoảng 93% GDP. Dự kiến thâm hụt ngân sách của nước này năm 2011 sẽ đạt 1.600 tỷ USD và tổng giá trị nợ của Mỹ sẽ chiếm trên 50% GDP. Còn Canada, nếu chia bình quân, mỗi người dân nước này nợ hơn 40.000 USD, đứng đầu trong số 20 nước phát triển trên thế giới và là mức cao nhất trong lịch sử.
Trong một báo cáo mới công bố, Goldman Sachs cho biết tính đến cuối năm 2009, tổng giá trị nợ công của Trung Quốc là 15.700 tỷ Nhân dân tệ, chiếm 48% GDP của nước này, trong đó chủ yếu là nợ của Chính phủ Trung ương (chiếm 20% GDP) và nợ của chính quyền địa phương (chiếm 23%). Trung Quốc có thể sẽ phải đối mặt với thâm hụt ngân sách khổng lồ, chiếm hơn 10% GDP trong năm 2010. Còn Ấn Độ, một nền kinh tế lớn đang lên ở châu Á, cũng đang đối mặt với tình trạng nợ công nặng nề. Tỷ lệ nợ so với GDP năm 2009 lên tới 88,9% và mức thâm hụt ngân sách năm 2010 dự kiến là - 6,8%.
Tiết lộ mới đây của tạp chí The Economist cho thấy tới tháng 2/2010, tổng giá trị nợ của tất cả các nước trên thế giới đã vượt qua mốc 36.000 tỷ USD – con số này hiện giờ chắc không dừng lại mốc đó. Trước đó, theo thống kê của cơ quan xếp hạng tín dụng Moodys, từ năm 2007-2010, nợ công toàn cầu sẽ tăng lên khoảng 15.300 tỷ USD, trong đó 80% của các nước thuộc nhóm G7.
Sẽ đến đâu?
Nợ công chồng chất không chỉ ở các nước đang phát triển mà thậm chí ở các nước phát triển còn khủng khiếp hơn nhiều. Các nước – giàu cũng như nghèo, đã vay nợ với tốc độ chóng mặt do suy thoái khiến thu thuế giảm, trong khi các khoản chi cứ tăng vùn vụt vì hoạt động giải cứu, hỗ trợ thất nghiệp và những nỗ lực kích thích kinh tế.
Chủ tịch Ngân hàng Thế giới (WB) Robert Zoellick đã bày tỏ lo ngại nhiều nước trên thế giới sẽ rơi vào khủng hoảng nợ giống như cuộc khủng hoảng mà Hy Lạp hiện đang phải đối mặt. Ông Zoellick đã cảnh báo hiểm họa khủng hoảng này từ tháng 1/2010, khi nợ ở các nước đều tăng cao. Hiện nguy cơ này thực sự đã trở thành vấn đề toàn cầu khi các chủ nợ ở châu Âu bắt đầu thẩm định lại nguy cơ vỡ nợ của các nước vay nợ.
Hồi cuối tháng 3, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) cảnh báo trong vòng ba tháng tới, tức là đến tháng 6/2010, chính phủ các nước phải chấp nhận công bố kế hoạch cắt giảm nợ và thâm hụt ngân sách khổng lồ, nếu không muốn chìm sâu hơn trong rắc rối. OECD - diễn đàn về chính sách của 30 nước phát triển hàng đầu - cho rằng các nước phải bắt đầu dừng các gói kích thích kinh tế trong năm 2011 để giảm thâm hụt ngân sách đang ở những mức cao kỷ lục và gây ra nợ nần trầm trọng. OECD dự đoán mức nợ của các nước thành viên tổ chức này sẽ vượt quá 100% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vào năm 2011, cao hơn khoảng 30% so với mức nợ trước khi nổ ra cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008. OCED cảnh báo: "Nếu không hành động mạnh tay, các khoản nợ, vốn đã ở mức cao, sẽ tiếp tục tăng trong trung hạn ở một số nước trong đó có Nhật Bản, Mỹ và Anh".
IMF dự kiến tổng nợ của chính phủ các nước G7 (trừ Đức và Canađa) sẽ tăng từ mức trung bình khoảng 75%. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của mỗi nước hồi cuối năm 2007 lên tương ứng khoảng 110% GDP vào cuối năm 2014. Năm nay, tỷ lệ nợ trung bình tính tương đương với GDP của các nước giầu nhất thế giới dự kiến sẽ lên tới mức như năm 1950, do chi phí trả lương hưu và chăm sóc sức khỏe gia tăng. IMF cho rằng các nước giàu sẽ phải cắt giảm chi tiêu, tăng thuế, và chỉnh đốn các khoản tiền trợ cấp hưu bổng và sức khỏe để giảm nợ trong năm sau. Theo ước tính của IMF, đến năm 2014, tại hầu hết các nền kinh tế tiên tiến, mức nợ của chính phủ sẽ cao hơn mức GDP thường niên. Đây là tỷ lệ nợ so với GDP cao nhất kể từ những năm sau Chiến tranh Thế giới thứ II.
Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) vừa công bố một báo cáo nghiên cứu, trong đó lưu ý rằng các nước công nghiệp hóa đang đánh giá thấp vấn đề nợ công và đối mặt với thực trạng nghiêm trọng hơn những gì phản ánh qua số liệu thống kê chính thức, do phải chi tiêu nhiều hơn cho lớp dân số già. Nghiên cứu của BIS cũng cảnh báo, nếu không thay đổi các chính sách hiện nay, vào năm 2020, nợ công sẽ tăng lên mức 300% GDP tại Nhật Bản, 200% tại Anh, và 150% tại Bỉ, Hà Lan, Ailen, Hy Lạp, Italia và Mỹ, đồng thời đe dọa nghiêm trọng tới triển vọng tăng trưởng kinh tế.
Theo các nhà phân tích kinh tế, những khoản nợ công khổng lồ ngày càng lan rộng ra nhiều nước làm cho tình hình kinh tế thế giới, vốn đã bắt đầu hồi phục nhưng chưa bền vững, có nguy cơ rơi vào một cuộc suy thoái mới. Sau cơn bão khủng hoảng tài chính toàn cầu, thu ngân sách chính phủ sẽ thấp hơn, trong khi chi ngân sách lại gia tăng. Điều này khiến mục tiêu cân bằng ngân sách trở thành một nhiệm vụ khó khăn hơn, trừ khi các chính phủ đưa ra các biện pháp ứng phó kịp thời để sửa chữa và bình ổn tình hình tài chính.
(Theo Diễn đàn doanh nghiệp)
18 Mar, 2010
Kinh nghiệm cho Việt Nam: “Mổ xẻ” gói kích cầu để nhìn về tương lai
Phần 1: Kích cầu kiểu Việt Nam
Gói hỗ trợ lãi suất 4% để kích thích kinh tế trong năm 2009 đã gây nhiều tranh luận của các chuyên gia kinh tế. - tinkinhte.com
Gói hỗ trợ lãi suất 4% để kích thích kinh tế trong năm 2009 đã gây nhiều tranh luận của các chuyên gia kinh tế. Ảnh: Lê Toàn.
Nhìn lại và phân tích các gói kích thích kinh tế của Việt Nam, Trung Quốc và Mỹ để thấy rõ hơn ta đã làm gì, nước khác làm khác ta ra sao và mục tiêu dài hạn của giải pháp này là gì. Liệu Việt Nam đã tính hết những rủi ro từ chính sách chưa và giải pháp tiếp theo ra sao? TBKTSG xin giới thiệu bài phân tích của GS.TS. Trần Ngọc Thơ và ông Hồ Quốc Tuấn (nghiên cứu sinh tiến sĩ) để giải đáp vấn đề đặt ra.
Điểm qua những kiểu kích cầu của Mỹ, Trung Quốc và Việt Nam
Đặc điểm của gói kích cầu của khối Anh-Mỹ là ra đời sau một gói cứu trợ ngành ngân hàng. Do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu từ khu vực các nước phát triển, tác động đặc biệt to lớn lên những thị trường tài chính Anh - Mỹ, nên các nước này phải lựa chọn giải pháp ứng cứu ngành kinh doanh bị tổn thất nặng nề trước và hy vọng giảm nhẹ tác động lây lan của nó. Sau khi tạm thời bình thường hóa được hoạt động của khối ngân hàng, các nước này mới đưa ra chương trình kích thích kinh tế của mình. Đặc điểm của gói kích thích này là nhắm vào kích thích nhu cầu tiêu dùng nội địa, chú trọng vào giảm các dòng thuế (thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng, hoãn nộp thuế cho doanh nghiệp...).
Nhìn chung, các gói kích thích kinh tế kiểu Mỹ và châu Âu nhắm vào duy trì vào tái tạo việc làm - thị trường bị tác động nặng nề trong khủng hoảng và làm ảnh hưởng đến tổng cầu xã hội, cố gắng kích cầu cá nhân. Các khoản hỗ trợ thuế trực tiếp cho doanh nghiệp chiếm tỷ trọng rất khiêm tốn trong gói kích thích kinh tế này. Có thể gọi, đây là trường phái kích cầu tiêu dùng cá nhân trực tiếp (trước gói kích cầu này Mỹ đã từng đưa ra một chương trình kích cầu là đập xe cũ mua xe mới - clash for clunkers).
Kích cầu kiểu Trung Quốc là một chương trình tái thiết hệ thống cơ sở hạ tầng khổng lồ. Phần lớn nhất chương trình kích cầu được Ngân hàng Thế giới (WB) ước tính khoảng 586 tỉ đô la Mỹ (khoảng 12% GDP năm 2009 của Trung Quốc) nhắm vào xây dựng hệ thống hạ tầng giao thông (trong đó các chương trình xây dựng các tuyến xe lửa rất gây ấn tượng với các nước phương Tây), xây dựng hạ tầng nông thôn, tái thiết sau động đất. Phần còn lại của gói kích cầu này nhắm vào cải thiện công nghệ, xây dựng nhà ở, cải thiện hệ thống y tế, năng lượng và môi trường. Gói kích cầu này không đi trực tiếp vào hỗ trợ doanh nghiệp, nhưng cũng không đi trực tiếp vào nâng sức cầu nội địa, mà là nhắm vào chi tiêu cho các dự án hạ tầng lớn và lợi ích sẽ chuyển vào các doanh nghiệp nhanh hơn.
Đặc điểm nổi bật của gói kích cầu của Việt Nam nằm ở hai gói hỗ trợ lãi suất. Gói kích cầu của Việt Nam cũng có điểm tương đồng với gói kích cầu phương Tây là hỗ trợ thuế (theo ước tính của WB gói hỗ trợ thuế cho doanh nghiệp trị giá 9.900 tỉ đồng, cao gấp đôi so với hỗ trợ cho thuế thu nhập cá nhân). Mặc dù không được chỉ ra rõ ràng, nhiều khoản mục hỗ trợ kinh tế của Việt Nam trong năm 2009 cũng nhắm vào một số loại cơ sở hạ tầng, như tạm ứng ngân sách 2010 cho một số dự án, chuyển nguồn đầu tư từ kế hoạch 2008 sang 2009. Tuy nhiên nổi bật nhất và có tác động lớn nhất đến kinh tế Việt Nam vẫn là hai gói hỗ trợ lãi suất của Việt Nam, trong đó câu chuyện 17.000 tỉ đồng hỗ trợ 4% cho lãi suất ngắn hạn (mà theo ước tính khi ban hành là sẽ tạo ra một lượng tín dụng 600.000 tỉ đồng cho nền kinh tế) thu hút nhiều tranh luận của các chuyên gia kinh tế của Việt Nam, trong đó có ý kiến cho rằng đây là kích cung chứ không phải kích cầu. Đây là kích cầu qua hỗ trợ lãi suất hay trợ giá lãi suất (WB dùng từ “interest rate subsidy” để nói về chương trình này). Đặc điểm đáng chú ý của gói kích cầu này là kết hợp chi tiêu tài khóa (để trợ giá) với chính sách tiền tệ - vì xem như đã giảm lãi suất thực hiệu lực của các khoản vay từ doanh nghiệp đi một mức 4% nữa, một chính sách giảm lãi suất trong khu vực kinh doanh chứ không cho toàn nền kinh tế - đồng thời tiền hỗ trợ lãi suất lấy từ dự trữ ngoại hối chứ không phải ngân sách.
Mô hình kích cầu của Việt Nam còn có một đặc điểm đáng chú ý nữa là việc Chính phủ vay nợ thương mại 1 tỉ đô la Mỹ thông qua phát hành trái phiếu quốc tế và sau đó phân bổ lại cho khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Biện pháp này đã tạo ra hai hệ lụy là hỗ trợ lãi suất nhiều tầng cho DNNN (vừa dẫn đến kìm hãm hệ thống tài chính và vừa dẫn đến tâm lý ỷ lại của khu vực DNNN) và tạo ra hiệu ứng chèn lấn (crowding out) đối với khu vực tư nhân.
Kết quả của chính sách này là khu vực kinh tế tư nhân sẽ bị chèn lấn văng ra khỏi một số lĩnh vực đầu tư do họ phải nhận mức lãi suất cao hơn khu vực DNNN. Hơn nữa, kênh phát hành trái phiếu quốc tế lại là kênh hỗ trợ vốn và lãi suất dài hạn nên hiệu ứng chèn lấn này mới đáng lo ngại. Khi nền kinh tế phục hồi, khu vực tư nhân vẫn bị hiệu ứng chèn lấn này ảnh hưởng nên sẽ khiến chi tiêu và đầu tư tư nhân phục hồi chậm ở một số lĩnh vực.
Những khác biệt: chọn chiến thuật theo thực lực
Mô hình kích cầu của khối Anh - Mỹ diễn ra sau một gói cứu trợ hệ thống ngân hàng, trong đó gói cứu trợ ngành ngân hàng của Mỹ lên đến 700 tỉ đô la. Sau đó, hệ thống này mới tiến hành gói kích cầu kinh tế. Trong khi đó, mô hình của nhóm Việt Nam - Trung Quốc là không có gói hỗ trợ ngân hàng. Nguyên nhân là vì khủng hoảng tài chính không tác động trực tiếp đến nhóm ngân hàng ở Việt Nam và Trung Quốc, ngân hàng không bị thua lỗ do các khoản nợ thứ cấp và các khoản đầu tư tài chính. Khủng hoảng ở Mỹ tác động trước tiên là đe dọa sự ổn định của hệ thống tài chính, góp phần làm bất ổn kinh tế nên Mỹ phải giải quyết vấn đề này trước. Tiếp theo họ phải gia tăng tổng cầu nội địa và tạo ra việc làm mới vì tổng cầu sụt giảm là nguyên nhân khiến kinh tế Mỹ suy yếu.
Trung Quốc lựa chọn đầu tư vào cơ sở hạ tầng làm thế mạnh kích cầu vì nước này chọn dựa vào nguồn cầu nội địa để vượt khủng hoảng chứ không chọn dựa vào nguồn cầu nước ngoài quá nhiều để kích thích tăng trưởng trong bối cảnh thị trường xuất khẩu thế giới đang xấu đi. Theo số liệu của WB, nguồn cầu nội địa đã góp phần lớn nâng đỡ kinh tế Trung Quốc đạt mức tăng trưởng ấn tượng trong năm 2009, trong đó đầu tư vào dự án hạ tầng của chính phủ đóng vai trò chính để thúc đẩy tăng trưởng. Số liệu của Trung Quốc cho thấy trong khi tình hình việc làm tiếp tục xấu đi trong khu vực xuất khẩu và cũng ảm đạm trong khu vực công nghiệp (do một số ngành công nghiệp như xi măng, sắt thép, nhôm có dấu hiệu dư thừa công suất và buộc chính phủ phải “can thiệp”), việc làm mới được tạo ra nhiều trong khu vực dịch vụ, xây dựng và khu vực nhà nước. Rõ ràng trong năm 2009, Trung Quốc dùng phương thức kích thích kinh tế hướng vào chi tiêu rất lớn cho các dự án hạ tầng để tạo ra việc làm và nâng đỡ tăng trưởng. Ở góc độ tạo ra việc làm mới một cách trực tiếp thông qua các chương trình chi tiêu của chính phủ, chúng ta tìm thấy sự tương đồng ở Trung Quốc và Mỹ.
Trong khi đó, mô hình tăng trưởng của Việt Nam lại bị ảnh hưởng nhiều bởi tổng cầu nước ngoài do phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu, do đó bản thân Việt Nam không lựa chọn tăng tổng cầu nội địa mà chọn duy trì nhân tố được chính phủ đánh giá là quan trọng của nền kinh tế là các doanh nghiệp sản xuất trong nước (mà phần không nhỏ là các DNNN) và doanh nghiệp nhắm về xuất khẩu.
Việt Nam vì vậy đã thực hiện việc duy trì một thị trường việc làm ổn định thông qua hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp. Có kích cung hay không thì có thể cần bàn nhưng rõ ràng duy trì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, giảm thiểu phá sản và thất nghiệp, giúp doanh nghiệp duy trì qua cơn nguy khó chờ sức cầu tăng lại là một quyết định tạm cho là thành công cho đến lúc này. Một cách nào đó, chúng ta đã đặt cược vào khả năng khôi phục của sức cầu từ bên ngoài hơn là tự tạo ra sức cầu mới bên trong nền kinh tế. Đây có thể nói là một lựa chọn phòng thủ thay vì tấn công như trong bóng đá. Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế giống như kiểu một trận đấu đang bế tắc, Trung Quốc và Mỹ lựa chọn tìm kiếm giải pháp tấn công mới, mô hình hỗ trợ (tạo tăng trưởng GDP mới), khai thông thế trận mới, trong khi Việt Nam lựa chọn phòng thủ và duy trì lối chơi truyền thống (mô hình tăng trưởng vẫn dựa vào xuất khẩu), chờ đợi cơ hội. Khó có thể nói là lựa chọn nào là hoàn toàn đúng, vì vấn đề còn phụ thuộc vào thực lực của từng đội. Liệu rằng ngân sách của Việt Nam có thể bền vững nếu lựa chọn giải pháp như Mỹ và Trung Quốc? Trong bóng đá phải dựa vào thực lực của cầu thủ mình để lựa chọn chiến thuật. Thể lực không đủ thì sao có thể thực hiện bóng đá tổng lực? Nhưng thực lực đủ mà không dám đá tổng lực thì sẽ bỏ qua nhiều cơ hội đáng tiếc.
Phần 2: Lựa chọn chính sách và hệ lụy
Mỗi chính sách đều có mặt mạnh, mặt yếu của nó. Trong khi Mỹ và Trung Quốc thể hiện rõ các tham vọng đầu tư vào các yếu tố tạo ra sức cạnh tranh dài hạn trong các gói kích cầu (như bài trước đã phân tích), Việt Nam lại không đặt ra mục tiêu dài hạn rõ ràng trong gói kích cầu.
Việt Nam và Trung Quốc: chính phủ “định hướng” phân bổ vốn
Một kết quả có thể nhận thấy là ở cả Việt Nam và Trung Quốc đều có một sự gia tăng mạnh mẽ của nguồn tín dụng nội địa (tín dụng cho nền kinh tế của Việt Nam trong năm 2009 tăng gần 38% trong khi tín dụng mới cho nền kinh tế của Trung Quốc tăng khoảng 30%, tín dụng trung và dài hạn nước này tăng 42%).
Vị trí đặt quảng cáoNguyên nhân là vì các dự án của Trung Quốc do chính phủ chỉ đạo thực hiện nhận được nguồn hỗ trợ vốn từ chính phủ nên có thể xin vay ngân hàng. Theo nhận định của Ngân hàng Thế giới (WB), các khoản vay hướng tới hỗ trợ thực hiện các dự án kích thích kinh tế đóng vai trò chủ chốt trong việc kích thích nguồn tín dụng nội địa của Trung Quốc tăng mạnh kể từ tháng 11-2008.
Còn ở Việt Nam, Chính phủ quyết định dùng 17.000 tỉ đồng để hỗ trợ lãi suất cho một số đối tượng doanh nghiệp, với mục tiêu hướng đến là hàng trăm ngàn tỉ đồng tiền tín dụng được cung cấp ra cho các đối tượng doanh nghiệp này. Như vậy, ở Việt Nam, Chính phủ đã đóng vai trò định hướng phân phối nguồn vốn, ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian dịch vụ hỗ trợ. Các tiêu chí và đối tượng phân phối vốn là do Nhà nước chỉ định.
Sự khác biệt trong cách kích cầu dẫn đến khác biệt trong mẫu hình tăng trưởng tín dụng. Người Mỹ vẫn duy trì quan điểm để thị trường vốn tự phân phối nguồn vốn và chỉ hỗ trợ cho ngân hàng để ngân hàng đóng vai trò chủ động đánh giá dự án và ra quyết định phân phối vốn. Sau đó, ngân hàng không chịu phân bổ vốn nữa thì chính phủ mới phải trực tiếp thực hiện các chi tiêu ngân sách để tạo việc làm, nhưng vẫn để lại quyền quyết định phân bổ vốn cho ngân hàng. Điều này khiến việc vay tiền ở Mỹ vẫn khó khăn và tăng trưởng tín dụng chậm.
Trung Quốc thì gián tiếp chi phối quyết định phân bổ vốn cho ngân hàng bằng những chương trình kích thích kinh tế khổng lồ, tạo ra nhiều dự án để người thực hiện dự án đến xin vay dễ dàng hơn ở ngân hàng. Trong khi đó, tiền của Chính phủ Việt Nam đổ vào để hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp, ngân hàng đóng vai trò trung gian nên ngân hàng phải cho vay được, hỗ trợ được khách cho vay thì ngân hàng mới có lợi (ít nhất là trong việc giữ quan hệ với khách hàng).
Như vậy, phương thức kích cầu của Việt Nam có tính định hướng đối tượng phân bổ vốn rõ ràng hơn, nhưng lại không định hướng dòng vốn sẽ chảy đi đâu một cách rõ ràng như Trung Quốc. Cách thức của Trung Quốc hướng dòng vốn vào thẳng các dự án hạ tầng và kích thích kinh tế, Việt Nam hướng được dòng vốn vào doanh nghiệp nhưng khó đảm bảo dòng vốn sau đó sẽ chảy đi đâu, vào sản xuất, vào nhà đất hay vào chứng khoán.
Các phương thức đều có mặt yếu và mạnh của nó. Nếu vốn Chính phủ Mỹ hỗ trợ cho ngân hàng Mỹ thì họ phải tuân thủ một số ràng buộc khắt khe và tiền là tiền của ngân hàng vay nên họ phải tính toán kỹ lưỡng. Hệ quả là tín dụng của Mỹ tăng chậm, ngân hàng Mỹ lo tích lũy vốn để đề phòng rủi ro, dẫn đến tình trạng gần đây có những bài bình luận về tình trạng “thừa tiền” của ngân hàng Mỹ, trong khi kinh tế Mỹ vẫn thiếu vốn nghiêm trọng.
Trong khi đó, Chính phủ Việt Nam hay Trung Quốc định hướng dòng vốn tín dụng - dù cơ chế có khác nhau, nên sẽ xuất hiện, có nhiều khả năng xảy ra những thất thoát và trục lợi trong việc phân phối vốn. Cả ở Việt Nam và Trung Quốc đều đã xuất hiện những cảnh báo về khả năng phân bổ sai các nguồn tín dụng, dẫn đến nợ xấu và bong bóng giá cả. Một tín hiệu đáng lo ngại là mặc dù tín dụng của Việt Nam và Trung Quốc đều tăng mạnh, ở cả hai nước này đều xuất hiện những than phiền là nguồn vốn tín dụng vẫn khan hiếm cho nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ và ở nông thôn.
Đâu là các mục tiêu dài hạn?
Một vấn đề nổi bật là trong khi Mỹ và Trung Quốc thể hiện rõ các tham vọng đầu tư vào các yếu tố tạo ra sức cạnh tranh dài hạn trong các gói kích cầu, chúng ta không tìm ra được một yếu tố nổi cộm về các đầu tư dài hạn của Việt Nam trong gói kích cầu. Với những khoản chi cho y tế, giáo dục và khoa học, Mỹ ghi nhận một trong những mục tiêu quan trọng của đạo luật ARRA là nâng cao tính hiệu quả của nền kinh tế và tạo ra các yếu tố tăng trưởng dài hạn cho nước này, chứ không chỉ là yếu tố ngắn hạn về việc làm và tăng trưởng.
Trong khi đó, không thể phủ nhận tham vọng của Trung Quốc với các chương trình đường sắt, sân bay và cầu cảng của mình. Một bài báo gần đây trên tờ The Economist cho thấy tham vọng của Trung Quốc không chỉ là một hệ thống đường xe lửa cao tốc gần 19.000 dặm (khoảng 30.000 ki lô mét) tới năm 2015 để kết nối 70-80% đô thị trên 500.000 dân ở Trung Quốc, mà còn là việc tiếp thu toàn bộ công nghệ hiện đại này (các công ty nước ngoài muốn thắng thầu phải chấp nhận chuyển giao công nghệ).
Như vậy, người Trung Quốc không chỉ là bỏ tiền xây đường sắt mà còn học cách xây nó với tham vọng sẽ xuất khẩu công nghệ này sau đó. Tờ The Economist đã cảnh báo lợi nhuận mà các công ty phương Tây thu được trong việc xây dựng và chuyển giao các tuyến đường sắt này trong tương lai có thể trở thành cái giá mà họ phải trả. Có thể cảnh báo này đã quá lo xa, nhưng cho thấy những chi tiêu của Trung Quốc không chỉ là hạ tầng, mà còn là khả năng công nghệ.
Trong khi đó, Việt Nam có mục tiêu dài hạn nào cho các chính sách kích cầu của mình? Không rõ ràng. Lý do là vì chúng ta chọn giải pháp phòng thủ và chèn lấn [ngay trên phần sân nhà]. Ngoài việc chèn lấn và dẫn đến làm suy giảm tiêu dùng cũng như đầu tư của khu vực tư nhân, chúng ta vẫn tiến hành phòng thủ bằng cách giữ nguyên mô hình phát triển dựa vào xuất khẩu, chờ thời và mong mỏi xuất khẩu tăng trở lại, không giải phóng sức sản xuất mới và sức cầu trong nước, cũng như không gỡ nút thắt cho những “vấn đề muôn năm cũ”: thủ tục hành chính, cơ cấu kinh tế, giải quyết thủ tục cho xây dựng cơ bản, cơ sở hạ tầng... Những chi tiêu cho dự án cấp bách trong gói kích thích kinh tế liệu có dỡ bỏ được hay dựng thêm nhiều “lô cốt” trong nền kinh tế?
Và đâu là hệ quả?
Một hệ quả dễ thấy đầu tiên là những gói kích cầu chiếm tỷ trọng lớn trong GDP sẽ tạo ra “những quả bong bóng ngân sách”, và nước nào chi càng nhiều thì càng gặp rủi ro và gánh nặng ngân sách lớn. Hiện tại sự lo ngại về một sự khủng hoảng ngân sách sẽ xảy ra không phải là thừa tại nhiều nước châu Âu.
Vấn đề này là một sự lựa chọn có tính đánh đổi. Một gói kích cầu đầy tham vọng của Trung Quốc có những rủi ro rất lớn của nó. Một số bài báo quốc tế đánh giá tình trạng hiện tại của Trung Quốc là cầu cảng, đường cao tốc, đường sắt, sân bay và nhà máy thép tràn lan. WB lo ngại không biết những dự án kích cầu sẽ được tài trợ ra sao, và bao nhiêu khoản vay hướng vào các dự án này sẽ trở thành nợ xấu. Cũng không ai biết khi các dự án đó hình thành thì tiền ở đâu sẽ được chi ra cho chi phí bảo trì những dự án khổng lồ đó.
Như vậy rủi ro cho hệ thống ngân hàng và ngân sách của Trung Quốc là rất lớn, khiến cho nhiều người dự đoán kinh tế Trung Quốc sẽ sớm trở thành một quả bong bóng mới và sẽ vỡ tung không lâu nữa. Nhưng cũng có không ít bình luận từ các nhà phân tích tài chính và kinh tế cho rằng những lo ngại đó là thừa. Vì Trung Quốc vẫn còn một tiềm năng lớn chưa được khai thác hết và những công trình đó sẽ giải phóng một sức sản xuất mới và tăng năng suất của nền kinh tế một cách đáng kể. Ai cũng có lý, và có lẽ đây cũng chỉ là một quyết định đầu tư đầy rủi ro, lợi nhuận cao, rủi ro cao. Như đã phân tích ở trên, chọn lựa chiến thuật mà phù hợp trình độ thì sẽ thành công, ngược lại, sẽ thất bại thê thảm.
Nhưng một vấn đề đáng lo ngại ở Việt Nam là mặc dù đã chi ra một lượng ngân sách không nhỏ, thậm chí là động viên tới nguồn lực của quỹ dự trữ ngoại hối, chúng ta lại không đặt ra một mục tiêu dài hạn nào cụ thể. Như vậy, khác với Trung Quốc và Mỹ, chúng ta đang chỉ hướng tới một mục tiêu lợi ích ngắn hạn trong khi lại đặt mình vào một rủi ro dài hạn đối với sức ép ngân sách và cân bằng của nền kinh tế tương tự như hai nước kia. Mục tiêu dài hạn của chúng ta xem ra vẫn chỉ là những kêu gọi dùng hàng Việt Nam và vẫn đẩy mạnh nền kinh tế hướng về xuất khẩu, chứ không giải quyết được gốc rễ của việc “sính hàng ngoại”, không đầu tư vào một dự án kích thích dùng hàng Việt Nam trong dài hạn. Một chiến lược đầu tư chỉ chọn thu về lợi ích ngắn hạn và vẫn duy trì chấp nhận rủi ro dài hạn có là khôn ngoan?
Phương thức kích cầu của Việt Nam còn có một hệ quả khác với hai nước kia là nó đóng vai trò kìm hãm lãi suất trong nền kinh tế ở một mức thấp giả tạo hơn thông qua các khoản hỗ trợ lãi suất nhiều tầng. Nếu không có nguồn vốn của chính phủ bơm vào thì các khoản vay trong thời điểm có nhiều rủi ro sẽ phải có lãi suất cao hơn. Tuy nhiên việc duy trì lãi suất cơ bản thấp và bơm tiền cho doanh nghiệp qua kênh cho vay kích cầu đã khiến mặt bằng lãi suất bị kìm hãm. Đến các tháng cuối năm hệ quả tạo ra là mặt bằng lãi suất huy động đã bị “kịch trần”. Giai đoạn này lại trùng với giai đoạn căng thẳng thanh khoản hàng năm của các ngân hàng nên đẩy các ngân hàng vào những căng thẳng tiền mới và chính phủ buộc phải gia tăng cung tiền trên thị trường mở để hỗ trợ ngân hàng - quay trở lại giải pháp ban đầu của Mỹ.
Điều này sẽ tạo ra một áp lực lạm phát cao hơn khi sức cầu tư nhân khôi phục còn các doanh nghiệp, bất kể có hiệu quả hay không do không có hỗ trợ lãi suất nữa, phải tìm cách chuyển phần chi phí không hiệu quả sang người tiêu dùng bằng cách tăng giá. Kết quả là có hai kịch bản: nếu sức cầu không tăng tương ứng thì các doanh nghiệp không hiệu quả sẽ phá sản (theo đại diện Ủy ban Tài chính ngân sách của Quốc hội, hiện đang có một lượng hàng tồn kho khá lớn, nên nếu không bán được thì nhiều doanh nghiệp sẽ lâm vào kiệt quệ tài chính). Vậy nghĩa là giải pháp kích cầu của Chính phủ trong năm ngoái chỉ là nỗ lực làm chậm tiến trình phá sản của các doanh nghiệp yếu kém.
Còn kịch bản thứ hai là nếu sức cầu trong và ngoài nước đối với hàng hóa - dịch vụ của Việt Nam tăng trở lại thì giá cả phải tăng theo và tín dụng sẽ quay lại căng thẳng với một mặt bằng lãi suất thấp. Khi đó các doanh nghiệp có đầu ra nhưng lại thiếu vốn vì ngân hàng không muốn cho vay với lãi suất thấp, nghĩa là sẽ tạo áp lực tăng lãi suất cơ bản và tăng giá. Nếu kịp thời tăng lãi suất cơ bản thì sẽ giải quyết được tình trạng tăng giá, loại bỏ bớt những doanh nghiệp không hiệu quả trên thị trường đồng thời kìm hãm bớt sức nóng của thị trường chứng khoán và nhà đất.
Ngược lại, thì sẽ tạo ra một tình trạng tài sản tài chính và giá cả tăng ào ạt trong khi ngân hàng thì thiếu vốn cho vay vì tiền không chạy vào ngân hàng. Đương nhiên tăng lãi suất cũng có hiệu ứng phụ của nó, vì sẽ khiến nhiều người vay tiền gặp rủi ro lãi suất dẫn đến thua lỗ, và có thể kìm hãm tăng trưởng kinh tế. Thật ra, không có lựa chọn nào là không trả giá. Vấn đề là cái giá nào là cao hơn.
Lời kết
Kết quả hiện nay tạm cho thấy Việt Nam đã an toàn vượt qua khủng hoảng mà không có phá sản ngân hàng, ít phá sản doanh nghiệp và gia tăng thất nghiệp. Nhưng thực tế thì việc phá sản ngân hàng của Mỹ là do các khoản vay trở xấu khiến ngân hàng thua lỗ quá mức. Ở Việt Nam vốn dĩ không có những tài sản tài chính “độc hại”, cho vay mua nhà cũng chưa đến mức như Mỹ, do đó sự suy thoái của thị trường bất động sản và thị trường chứng khoán chưa đến mức tạo ra khủng hoảng ngay lập tức cho hệ thống ngân hàng tuy vẫn có một giai đoạn thanh khoản cạn kiệt do tình hình giải chấp.
Mặt khác hệ thống thông tin của Việt Nam chưa đầy đủ, và cấu trúc thị trường nhà ở chưa hoàn chỉnh, nên không nắm bắt được con số thực tế những người làm nghề môi giới nhà đất tự do và những khoản vay ngoài hệ thống ngân hàng để mua nhà. Do đó, tổn thất theo số liệu báo cáo của các ngân hàng có thể đã được đánh giá thấp (chưa kể ngân hàng không báo cáo số liệu thực tế). Do vậy, không thể dựa vào tình thế để kết luận về sự thành công của chính sách kích cầu.
Một điều có thể nhận thấy qua những phân tích trong bài viết là lựa chọn gói kích cầu của Chính phủ là điều chỉnh theo mô hình kinh tế hướng về xuất khẩu, dựa vào sức cầu bên ngoài của Việt Nam. Gói kích cầu không có những mục tiêu dài hạn rõ ràng trong khi vẫn chấp nhận rủi ro tương tự như những nước khác về ngân sách. Vì vậy, thiết nghĩ, bước đi tiếp theo của Việt Nam không phải là một gói kích cầu tương tự như vậy nữa, mà cần là một gói cải cách kinh tế thật sự để xây dựng những chương trình dài hạn nhằm cải thiện mô hình tăng trưởng của Việt Nam cho cân bằng hơn và hướng tới giải quyết những “nút cổ chai” trong nền kinh tế.
(Tác giả: Trần Ngọc Thơ - Đại học Kinh tế TPHCM và Hồ Quốc Tuấn - Đại học Manchester, Anh // Theo Thời báo Kinh tế Sài Gòn)
13 Mar, 2010
DẬY MÀ ĐI
Nhạc và lời: Nguyễn Xuân Tân
Chiến tranh đã tràn vào các đô thị Miền Nam. Giảng đường, nhà máy, chùa chiền đã không còn yên tĩnh. Dòng thác biểu tình tràn ngập trên các đường phố, cả thành phố xuống đường, những đêm không ngủ, những ngày tuyệt thực trắng rợp sân trường. Lựu đạn, dùi cui không thể ngăn nổi lời ca tiếng hát, những bản tuyên cáo đòi hòa bình, những cuộc đấu tranh bạo động của học sinh, sinh viên. Chúng tôi đốt lửa giữa lòng đô thị, tuyên chiến hào hùng: “Hãy dậy mà đi”
Dậy mà đi, dậy mà đi.
Ai chiến thắng không hề chiến bại,
Ai nên khôn không khốn một lần.
Dậy mà đi! dậy mà đi!
Dậy mà đi hỡi đồng bào ơi!
Đừng tiếc nữa cần chi khóc mãi,
Dậy mà đi núi sông đang chờ.
Dậy mà đi! dậy mà đi!
Dậy mà đi hỡi đồng bào ơi!
Bao nhiêu năm qua dân ta sống không nhà,
Bao nhiêu năm qua dân ta chết xa nhà.
Dậy mà đi! dậy mà đi!
Dậy mà đi hỡi đồng bào ơi!
13 Mar, 2010
Quảng Bình Quê Ta Ơi
Nhạc và lời: Hoàng Vân
(1).
Nếu ai hỏi vì sao quê hương chúng ta nhiều ngói mới?
Rằng có đằng cay nên chừ mới có ngọt bùi.
Nếu ai hỏi vì sao quê hương chúng ta đồng lúa tốt?
Có nhớ những ngày cơ cực tối tăm ngày xưa?
Quảng Bình (Khoan khoan hò khoan) bao mến thương (Khoan khoan hò khoan)
Đã mười năm rồi quê ta bao đổi thay rồi (Khoan khoan hò khoan)
Từ biển xanh (Khoan khoan hò khoan) đến rừng núi xanh (Khoan khoan hò khoan)
Xinh tươi bốn mùa rộn vang tiếng hò khoan Lệ Thủy trên dòng sông Kiến Giang dạt dào tình quê.
Ơi! chị dân quân canh gác ven biển.
Ơi! anh chiến sĩ cang gác bầu trời.
Mỗi một ngày qua quê ta trưởng thành.
Hạt giống cách mạng đã nảy mầm, nảy mầm xanh tươi.
(Điệp khúc)
Quảng Bình quê ta ơi!
Giữ lấy đất trời của quê hương ta.
Giữ lấy những gì mà ta yêu quý.
Quảng Bình quê ta ơi!
Muôn người như một gửi về Trị Thiên tấm lòng sắt son,
Hẹn ngày chiến thắng ta sẽ về trong một nhà.
(2).
Có ai về Đại Phong xin vô ghé thăm vùng bến Tiến.
Tay cuốc khai hoang đã đẩy lùi quá khứ nghèo nàn.
Có ai về Quảng Phú vui nghe tiếng ai hò kéo lưới.
Hợp tác chung trời, chung biển cá tươi đầy khoang.
Vẻ vang thay (Khoan khoan hò khoan) bao tấm gương (Khoan khoan hò khoan)
Bám biển đêm ngày chiến thắng bão lụt đêm ngày (Khoan khoan hò khoan)
Đồng luá xanh (Khoan khoan hò khoan) với hàng cây xanh (khoan khoan hò khoan)
Vui trên bến thuyền ngược xuôi giữa dòng sông Nhật Lệ
Như những con thoi suốt ngày, từng đoàn xe đi.
Ơi! chị thanh niên phơi muối ven biển
Ơi! anh công nhân đẵn gỗ trên rừng
Lứa tuổi thanh xuân hai mươi tuổi đời cùng với quê hương lớn lên rồi, cả cuộc đời mới.
(Điệp khúc)
Quảng Bình quê ta ơi!
Giữ lấy đất trời của quê hương ta
Giữ lấy những gì mà ta yêu quý
Quảng Bình quê ta ơi!
Muôn người như một gửi về Trị Thiên tấm lòng sắt son
Hẹn ngày chiến thắng ta sẽ về trong một nhà
(3).
Có ai về Rào Nam xin vô ghé thăm vùng Cự Nẫm
Làng chiến đấu xưa nay đã đổi mới muôn màu
Có ai về Cảnh Dương, quê tôi đứng nơi đầu sóng gió
Truyền thống đánh giặc giữ làng mãi mãi còn đây
Dòng sông Gianh (Khoan khoan hò khoan) với hàng dương xanh (Khoan khoan hò khoan)
Đời đời hát ca tên anh, những người anh hùng (Khoan khoan hò khoan)
Có còn nhớ chăng? (Khoan khoan hò khoan) những ngày kháng chiến (Khoan khoan hò khoan)
Đêm đêm ngóng chờ từng tin thắng trận bến Xuân Bồ
Ôi nhớ sao các mẹ các chị dành gạo nuôi quân
Ơi! chị dân quân canh gác ven biển
Ơi! anh chiến sĩ canh gác bầu trời
Mỗi ngày qua quê ta trưởng thành hạt giống cách mạng đã nảy mầm, nảy mầm xanh tươi.
(Điệp khúc)
Quảng Bình quê ta ơi!
Giữ lấy đất trời của quê hương ta
Giữ lấy những gì mà ta yêu quý
Quảng Bình quê ta ơi!
Muôn người như một gửi về Trị Thiên tấm lòng sắt son
Hẹn ngày chiến thắng ta sẽ về trong một nhà.
14 Jan, 2010
Thâm hụt ngân sách - nỗi lo của các nước năm 2010
Chuyên gia kinh tế Pháp Guillaume Guichard nhận định dưới tác động của khủng hoảng kinh tế, tình trạng thâm hụt ngân sách của các nước đang ngày càng gia tăng.
Theo dự đoán, nợ ngân sách, đặc biệt là của các nước phát triển, sẽ lên đến đỉnh điểm vào năm 2010.
Nợ trung bình của các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), chiếm 73,1% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) năm 2007, sẽ tăng lên 100% vào năm 2011.
Nói một cách cụ thể hơn, những khoản nợ trung bình của các nước OECD sẽ tương đương với GDP của một nước giàu.
Tổng số nợ ngân sách trong khu vực đồng euro ước tính cũng sẽ đạt đỉnh điểm 1.000 tỷ euro vào năm 2010, so với 650 tỉ năm 2008.
Tình trạng của mỗi quốc gia tuy khác nhau, song các nước phát triển bị ảnh hưởng nhiều nhất. Nợ của Nhật Bản sẽ tăng từ 167% lên 204% GDP, của Pháp cũng tăng từ 70% lên 99%, và của Hy Lạp từ 103% lên 130%.
Ngay cả Đức, một hình mẫu trong việc điều tiết ngân sách, cũng phải chấp nhận nợ ngân sách tăng từ 65% lên 85,5% GDP, vượt quá nhiều so với ngưỡng 60% được qui định trong Hiệp ước Maastricht về nợ ngân sách đối với các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu (EU).
Theo giải thích của các chuyên gia OECD, ngân sách công của các nước thực ra đã bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng từ tháng 9/2008.
Nguồn thu ngân sách từ thuế, vốn phụ thuộc vào tình hình hoạt động kinh tế, bị giảm mạnh do suy thoái, trong khi các khoản chi tiêu công tăng vọt do nạn thất nghiệp gia tăng, kéo theo những khoản trợ cấp xã hội tăng cùng chi phí bổ sung cho các giải pháp an sinh xã hội. Đó là chưa kể chi phí dành cho các kế hoạch phục hồi kinh tế cũng khiến nợ ngân sách tăng đột biến.
Để bù đắp sự thâm hụt này, các nước phải tìm đến giải pháp vay vốn. Tuy nhiên, đây được cho là giải pháp "nguy hiểm" trong trường hợp các nước không bán được trái phiếu kho bạc hoặc phải bán với mức lãi suất quá cao. Điều này sẽ chỉ khiến các khoản nợ ngày càng chồng chất thêm.
Mặc dù vậy, các chuyên gia kinh tế cho rằng tình huống trên sẽ khó có thể xảy ra do thị trường đủ khả năng tiếp nhận công trái Nhà nước. Thêm vào đó, khu vực tư nhân hiện đang trong quá trình giảm nợ nên các nhà đầu tư sẽ có thêm tiền mặt để đầu tư và giải quyết dần các khoản nợ.
Tuy nhiên, chính ở giai đoạn trả nợ này, những khó khăn mới thực sự bắt đầu khi các nước sẽ phải nỗ lực để "tăng thu, giảm chi". Điều đó có nghĩa là chi phí phải được duy trì ở mức thấp nhất và nguồn thu thuế sẽ phải tăng cao hơn mức hiện nay./.
8 Dec, 2009
DNVN thay đổi để đương đầu với đối thủ ngoại trên sân nhà
Trong khi nhiều doanh nghiệp và chuyên gia kinh tế trong nước không giấu được sự lo lắng, bất an khi nhận thấy hàng hóa Trung Quốc đang lấn át hàng nội địa thì một số doanh nghiệp nhỏ và vừa đã biết cách tìm cho mình một hướng đi riêng để đương đầu với làn sóng trên. Hiểu mình, biết người Những năm trước, Công ty cổ phần Mỹ thuật Gia Long (quận Gò Vấp, TPHCM) chuyên xuất khẩu các sản phẩm thủ công mỹ nghệ làm bằng nhựa sang châu Âu, Hàn Quốc dự cảm được doanh số xuất khẩu sang các thị trường này sẽ giảm đáng kể nên đã quyết định thay đổi chiến lược kinh doanh. Ông Trần Việt Tiến, Giám đốc công ty, cho biết công việc đầu tiên của Gia Long là khảo sát thị trường, đánh giá hàng ngoại nhập có cùng chủng loại của Thái Lan, Trung Quốc đang hiện diện tại các thành phố lớn trên cả nước. Họ mạnh về dòng sản phẩm gì, còn yếu và thiếu ở điểm nào. Có thông tin chi tiết của đối thủ ngoại trong tay, ông Tiến thở phào nhẹ nhõm vì kế hoạch mà công ty sắp triển khai để đối đầu trực diện với hàng nhập khẩu hoàn toàn có cơ sở để tiến hành. Gia Long cũng là thương hiệu uy tín trong lĩnh vực sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, do đó việc thiết lập quan hệ với đại lý, nhà phân phối đồ trang trí nội thất như hệ thống Nhà Xinh, Nhà Đẹp, Rossano… ở các địa phương cũng khá thuận lợi. “Mỗi tỉnh, thành công ty chỉ chọn 1-2 nhà phân phối”, ông Tiến nói. Công ty Gia Long chọn phân khúc khách hàng có mức thu nhập trung bình khá, thiết kế riêng cả chục bộ sưu tập trang trí nội thất, từ tranh, đèn cho đến khung gương, đồng hồ… có kiểu dáng phong phú hơn đối thủ ngoại, giá cả thì thấp hơn khoảng 10-20%. Từ giữa năm 2008, Công ty cổ phần Giấy tập Lệ Hoa (quận Bình Tân, TPHCM) đã kịp thời điều chỉnh chiến lược kinh doanh khi nhận ra dòng sản phẩm sổ, tập vở… từ Trung Quốc, Thái Lan vào Việt Nam ngày càng có dấu hiệu gia tăng. Bên cạnh đó, sự lan tỏa của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã tác động khá nhiều đến mảng xuất khẩu của Lệ Hoa. Theo ông Lữ Trung Đạt, cố vấn Công ty Giấy tập Lệ Hoa, đặc tính chung của hàng hóa có nguồn gốc Trung Quốc (loại hai, loại ba) là giá rẻ, hợp thị hiếu người tiêu dùng, tuy nhiên chất lượng thì không thể tốt hơn hàng Việt Nam. Ông Đạt thừa nhận các doanh nghiệp Trung Quốc nghiên cứu hành vi tiêu dùng của người Việt Nam rất chuyên nghiệp. Họ chịu đầu tư, đôi khi họ hiểu tâm lý người Việt Nam hơn là doanh nghiệp ở trong nước. Đây là điều các doanh nghiệp trong nước cần suy nghĩ! Quay lại thị trường trong nước, trong năm 2009, phần đầu ra sản phẩm Lệ Hoa đã giao cho Công ty TNHH Văn phòng phẩm Thiệu Hoa chuyên lo phân phối, còn đầu vào thì Lệ Hoa hợp tác với Công ty TNHH một thành viên Lê Quang Lộc. Phần mình, Lệ Hoa chỉ tập trung vào việc sản xuất và nghiên cứu. Ông Đạt cho biết trong giai đoạn này, để đối phó với hàng giá rẻ, kém chất lượng chiến lược kinh doanh của Lệ Hoa là chấp nhận sản xuất các dòng sản phẩm với nhiều mức giá khác nhau, chất lượng tốt hơn để người tiêu dùng có cơ hội lựa chọn. Trong khi đó Công ty cổ phần Đình Quốc (DQ - quận Tân Bình, TPHCM), trước đây từng vạch ra mục tiêu hướng đến phân khúc trung và cao cấp cho nên hàng giá rẻ của Trung Quốc ảnh hưởng không đáng kể. Tuy nhiên, kể từ đầu năm 2009, DQ có sự điều chỉnh chiến lược. Theo ông Đoàn Đình Quốc, Chủ tịch Hội đồng quản trị DQ, đối với hàng giá rẻ của Trung Quốc, các doanh nghiệp Việt Nam không thể một sớm một chiều có sách lược đối phó, vấn đề là tự thân mỗi doanh nghiệp phải có cách quan tâm, cách thể hiện sản phẩm như thế nào để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, hoặc nâng cao kiến thức tiêu dùng của khách hàng trong nước. “DQ không chọn cách cạnh tranh về giá mà liên tục tạo ra sản phẩm mới, để thâm nhập sâu và rộng vào phân khúc cấp thấp và trung bình vốn còn rất nhiều tiềm năng tại thị trường nội địa”, ông Quốc nói. Cũng theo ông Quốc, lực lượng 2.200 đại lý hoạt động trên cả nước được xây dựng trong suốt 10 năm qua là lợi thế cạnh tranh lâu dài của công ty. Lĩnh vực hàng da giày, dệt may Việt Nam cũng đang bị hàng giá rẻ Trung Quốc áp đảo ngay trên “sân nhà”. Ông Hồ Viết Lý, Giám đốc Công ty TNHH Dệt lụa tơ tằm Toàn Thịnh (quận Tân Bình, TPHCM), cho biết giải pháp mang tính chiến lược của công ty trong tình cảnh này là tập trung phát triển dòng sản phẩm lụa tơ tằm thân thiện với môi trường (xem bài Thêm hương sắc cho lụa, TBKTSG số ra ngày 22-10-2009). Ông Lý cho rằng, trong kinh doanh tự thân mỗi doanh nghiệp phải hiểu mình đang yếu ở điểm nào và có lợi thế gì để đề ra sách lược đối phó với hàng ngoại nhập. “Cái gì hàng ngoại chưa làm được thì mình phải biết cách tận dụng, mạnh dạn chiếm lĩnh người tiêu dùng trong nước ngay”, ông nói. Những xu thế đáng lưu tâm Hầu hết các doanh nghiệp được đề cập ở trên đều cho rằng “năm thử thách 2009” sẽ trở nên có ý nghĩa nếu doanh nghiệp biết biến những nguy cơ trong thời khủng hoảng thành cơ hội để phát triển trong tương lai. Theo một số doanh nghiệp, để doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển bền vững, có đủ nguồn lực vượt qua “năm thử thách”, họ cần phải được hỗ trợ bằng những chính sách cụ thể, rõ ràng và phù hợp với các điều kiện sẵn có. “Mặc dù các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong thời gian qua đã được triển khai nhưng rất tiếc là không đến được các doanh nghiệp nhỏ, nếu có đến được thì mức hỗ trợ cũng không đáng kể, hoặc do doanh nghiệp không đủ điều kiện để hưởng chính sách đó, mặc dù ở Việt Nam doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm hơn 80%”, giám đốc một doanh nghiệp sản xuất thực phẩm ở huyện Củ Chi, TPHCM, nói. Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, khi tham dự hội thảo “Nguồn lực cho doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn sau khủng hoảng”, do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức tại TPHCM hồi tháng trước, cũng cho rằng thị trường nội địa vẫn đang bị tác động của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu và có nhiều khả năng sẽ tiếp tục kéo dài. “Năm 1997, Việt Nam chịu sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính trong khu vực nhưng mãi đến năm 2005 nền kinh tế mới hồi phục. Còn hiện nay chúng ta lại chịu sự tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và theo dự đoán của cá nhân tôi, Việt Nam khó tăng trưởng hoàn toàn sau năm 2010. Chính vì thế ngay từ bây giờ các doanh nghiệp trong nước nên chuẩn bị nguồn lực cạnh tranh cho mình trong 5-10 năm tới”, bà Lan nhận định. Bà Lan cho rằng, trong 5-10 năm tới các doanh nghiệp trong nước sẽ vào cuộc cạnh tranh ngày càng gay gắt trước sự đổ bộ của các công ty nước ngoài vào Việt Nam vì các rào cản thương mại trong nước và ở khu vực dần được tháo gỡ. “Chúng ta đang triển khai chiến dịch kêu gọi người Việt Nam ưu tiên sử dụng hàng Việt Nam, tôi nghĩ là không dễ vì hàng hóa của các công ty đa quốc gia đã và đang thâm nhập vào khắp “hang cùng ngõ hẻm” của Việt Nam. Các doanh nghiệp trong nước rất dễ bị “nốc ao”, mất ưu thế cạnh tranh vì đến chỗ nào cũng đụng phải hàng hóa của đối thủ”, bà Lan nhận định. Theo gợi ý của bà Lan, các doanh nghiệp trong nước cần nhanh chóng nâng cấp các yếu tố tạo nên năng lực cạnh tranh. Thứ nhất, tạo liên kết giữa các nhóm công nghiệp như ngành sản xuất cốt lõi, công nghiệp phụ trợ, dịch vụ hỗ trợ, nguồn nhân lực, phương tiện và dịch vụ hậu cần, nghiên cứu, phát triển và mở rộng chuỗi giá trị gia tăng. Thứ hai, mở rộng quy mô bán hàng trên thị trường khu vực, kiểm soát mạng phân phối quốc tế, xây dựng những thương hiệu mạnh, khả năng hấp thu công nghệ bên ngoài, tham gia các chuỗi sản xuất - kinh doanh khu vực và toàn cầu. Thứ ba, mở rộng đầu tư ra bên ngoài bằng cách mua lại các công ty của các nước khác, phát huy vai trò các hiệp hội, sẵn sàng vượt qua các hàng rào kỹ thuật, đối phó với các tranh chấp thương mại, kể cả chủ động tự bảo vệ và tấn công khi cần. Hàng giả, hàng nhái được ưa chuộng vì giá rẻ, mẫu mã đẹp Bộ phận Quyền sở hữu trí tuệ thuộc Thương vụ Ý tại Việt Nam, Công ty Nghiên cứu thị trường A.C. Nielsen và Công ty Luật Rouse đã công bố kết quả điều tra tình hình hàng giả ở Việt Nam được thực hiện tại Hà Nội và TPHCM. Theo đó, ở TPHCM, hàng giả, hàng nhái thường do các cơ sở trong nước sản xuất (chiếm 65%), trong khi ở Hà Nội hàng giả chủ yếu đến từ Trung Quốc (chiếm 83%). Các sản phẩm may mặc bị làm giả nhiều nhất tại TPHCM, trong khi ở Hà Nội là hàng kim khí điện máy và dược phẩm. Bà Catherine Eddy, Giám đốc điều hành, nghiên cứu khách hàng Việt Nam và Indonesia tại Công ty A.C. Nielsen, cho biết những người bán lẻ ở Hà Nội cho rằng nguyên nhân họ bán hàng nhái, hàng giả vì giá mềm hơn nên dễ bán, còn người bán lẻ ở TPHCM thì cho rằng lợi nhuận cao khiến họ vẫn còn bán hàng nhái, hàng giả. Khi gặp gỡ trực tiếp với khách mua hàng, phần lớn cho biết họ không thích mua phải hàng giả, hàng nhái (83%), tuy nhiên nhờ những ưu điểm về giá (81%) và mẫu mã thiết kế đẹp, bắt mắt (71%) nên họ đã mua. “Khách hàng thậm chí đánh giá hàng dệt may ít nguy hại hơn và chính vì vậy, việc mua hàng chính hiệu không quan trọng như hàng kim khí điện máy và dược phẩm,” bà Eddy cho biết thêm. Trung Châu
Khách chọn mua tập vở tại một hội chợ được tổ chức ở quận 5, TPHCM. Ảnh: Uyên Viễn.
(Theo Thời báo kinh tế Sài Gòn)


